GS Nguyễn Đình Đức: Người Thầy của nhiều thế hệ học trò vượt khó, xuất sắc

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức là chuyên gia đầu ngành của Việt Nam trong lĩnh vực Vật liệu – Kết cấu tiên tiến và Composite, có hàng trăm bài báo trên tạp chí quốc tế ISI. Ông từng là giáo sư thỉnh giảng của nhiều trường đại học danh tiếng trên thế giới. Ông đã lan tỏa kiến thức, niềm đam mê khoa học ấy đến với bao thế hệ học trò.

Quả ngọt từ những hạt nhân

Ngay từ khi về nước năm 2002, GS Nguyễn Đình Đức đã có nhóm nghiên cứu riêng. GS Nguyễn Đình Đức cho biết, trọng tâm nghiên cứu chuyên sâu và thế mạnh của nhóm nghiên cứu của ông là các lĩnh vực: composite, vật liệu chức năng FGM và vật liệu nano. Nhóm đang tiếp cận các hướng nghiên cứu hiện đại của cách mạng công nghiệp 4.0 trong lĩnh vực Cơ học kỹ thuật, kết hợp với trí tuệ nhân tạo, tối ưu hóa, tự động hóa và deep learning.

Ban đầu nhóm nghiên cứu chỉ có tôi và một vài học trò. Một mặt tôi giảng dạy kiến thức cho các em, mặt khác tôi động viên tinh thần, quan tâm tới đời sống của mỗi em để các em yên tâm tiếp cận môi trường nghiên cứu khoa học vốn cần nhiều thử thách về lòng kiên trì. Bên cạnh việc truyền tải tri thức còn là sự miệt mài và đồng hành cùng với các em trong những điều kiện hết sức thiếu thốn về cơ sở vật chất, điều kiện làm việc, có những lúc tưởng chừng không vượt qua nổi, nhưng chúng tôi vẫn luôn động viên nhau, người thầy thì định hướng, dìu dắt; học trò có sức trẻ thì miệt mài. Có nhiều đêm 1- 2 giờ sáng thầy trò vẫn còn trao đổi, thảo luận về đề tài chưa ngã ngũ”,GS Nguyễn Đình Đức nhớ lại.

Các học trò say sưa nghiên cứu khoa học dưới sự dìu dắt tận tình của GS Nguyễn Đình Đức. Ảnh: NVCC

Không phụ những nỗ lực bền bỉ và vượt lên hoàn cảnh ấy, các kết quả nghiên cứu của thầy và trò GS Nguyễn Đình Đức liên tục được công bố trên các tạp chí quốc tế có uy tín với hàng trăm bài báo. Theo giới chuyên môn, con số công bố quốc tế này còn nhiều và xuất sắc hơn cả nghiên cứu sinh được du học và đào tạo ở nước ngoài. Học trò đến với GS Nguyễn Đình Đức ngày một nhiều hơn, tiếp cận với các hướng nghiên cứu hiện đại của thế giới và có tiếng trong giới nghiên cứu khoa học ở trong và ngoài nước.

Điều đáng nói, điểm tên những học trò thành danh của GS Nguyễn Đình Đức, đa số các em đều ở tỉnh xa, xuất thân từ những gia đình nghèo, học lực năm đầu tiên của nhiều em chỉ ở mức khá, nhưng được thầy dìu dắt, tận tâm chỉ bảo, các em đã vươn lên, tài năng được thắp sáng. Đó là các em như Hoàng Văn Tùng quê ở Ninh Bình, từ nhỏ chỉ sống với mẹ và gia đình thuộc diện khó khăn nhất xã; Trần Quốc Quân, quê ở Can Lộc, Hà Tĩnh – bố ốm đau bệnh tật, mẹ làm nông nghiệp, nhiều lúc tưởng phải bỏ cuộc nghiên cứu khoa học nửa chừng; Phạm Hồng Công, mồ côi bố từ bé. Tôi nhìn thấy ở các em hoài bão vươn tới những trí thức mới, niềm khao khát học tập và sự kiên trì, bền bỉ. Họ đều trở thành những người thành danh trong giới nghiên cứu khoa học trẻ.

TS Trần Quốc Quân (ĐH Công nghệ, ĐH Quốc gia Hà Nội)- chàng trai 9X có nhiều bài báo quốc tế được công bố trên tạp chí ISI- chia sẻ: “Những ngày đầu bước chân vào con đường nghiên cứu khoa học còn gặp rất nhiều khó khăn, có nhiều lúc tưởng chừng bế tắc khiến tôi nản chí và muốn bỏ cuộc. Chính thầy là người đã động viên, giúp đỡ để tôi có thể có thêm động lực vượt qua tất cả để đạt được những kết quả ngày hôm nay. Thời gian khó khăn nhất của tôi là lúc chuẩn bị ra trường, trước nhiều lựa chọn cho tương lai của mình, tôi rất phân vân và trăn trở. Khi đến chia sẻ với thầy và xin ý kiến tôi đã nhận được những góp ý chân thành và đưa ra quyết định chính xác nhất. Đến giờ tôi vẫn luôn biết ơn thầy vì điều đó”.

Còn PGS TS Nguyễn Việt Hà, Hiệu trưởng ĐH Công nghệ, ĐH Quốc gia Hà Nội nhận định: “Tôi nhận thấy sự gắn bó gần gũi giữa thầy và các học trò, giữa nghiên cứu sinh khóa trước với các bạn khóa sau, cùng hỗ trợ nhau trong nghiên cứu và chia sẻ cả các vấn đề trong cuộc sống của nhóm nghiên cứu GS Nguyễn Đình Đức. Ngoài sự đam mê khoa học và yêu cầu khắt khe về công việc, GS Đức còn đặc biệt ở sự tận tình, bên cạnh vai trò người thầy thì như một người anh cả, một phụ huynh để chăm lo cho toàn nhóm nghiên cứu. Có lẽ đây là một điểm rất đáng trân trọng ở GS Đức. Nhờ đó mà nhóm nghiên cứu duy trì ổn định, tạo ra một cộng đồng giúp đỡ nhau, động viên nhau bền bỉ trong nghiên cứu và giảng dạy”.
Đến phát triển phòng thí nghiệm tầm quốc tế

Từ một nhóm nghiên cứu của mình, GS Nguyễn Đình Đức đã thành lập phòng thí nghiệm Vật liệu và Kết cấu tiên tiến (ĐH Công nghệ, ĐH Quốc gia Hà Nội). Đây là sự kết hợp giữa hai mô hình: Tổ bộ môn (đào tạo đầy đủ các bậc từ kỹ sư, thạc sĩ đến tiến sĩ) và mô hình phòng thí nghiệm (triển khai các nghiên cứu khoa học với các thiết bị hiện đại), thu hút hàng chục học viên cao học và nghiên cứu sinh từ khắp mọi miền của đất nước và cả ở nước ngoài đến trao đổi, sinh hoạt chuyên môn, nghiên cứu và học tập.

GS Nguyễn Đình Đức được mời trình bày báo cáo tại phiên toàn thể của Hội nghị quốc tế – tổ chức tại Hàn Quốc, 2017. Ảnh: NVCC

Đánh giá về sự phát triển của Phòng thí nghiệm Vật liệu và kết cấu tiên tiến (ĐH Công nghệ, ĐH Quốc gia Hà Nội, PGS TS Nguyễn Việt Hà, Hiệu trưởng ĐH Công nghệ cho biết: Phòng thí nghiệm Vật liệu và kết cấu tiên tiến (PTN) triển khai các hướng nghiên cứu hiện đại, có tính liên ngành giữa cơ học, khoa học vật liệu và môi trường và các lĩnh vực khác, bắt nhịp với xu hướng hiện đại và liên ngành của công nghiệp 4.0. Kết quả nghiên cứu của Phòng thí nghiệm đã công bố trên nhiều tạp chí quốc tế có uy tín, có chỉ số trích dẫn cao. Đồng thời đón tiếp nhiều chuyên gia, nhà khoa học có uy tín của nước ngoài đến trao đổi và hợp tác, phối hợp tổ chức nhiều hội thảo quốc tế cũng như có hợp tác chặt chẽ với nhiều doanh nghiệp để đưa các kết quả nghiên cứu vào ứng dụng thực tiễn. Năm 2016, Phòng thí nghiệm đã được Cục sở sữu trí tuệ cấp Bằng Giải pháp hữu ích.

“Những kết quả của PTN đạt được có vai trò dẫn dắt rất quan trọng của GS. TSKH Nguyễn Đình Đức. GS Nguyễn Đình Đức là một trong những nhà khoa học đầu ngành, vừa có chuyên môn chuyên sâu, vừa tâm huyết, đồng thời có các mối quan hệ hợp tác hiệu quả để xây dựng nhóm nghiên cứu và phát triển Phòng thí nghiệm. Sự thành công của PTN vừa là điểm sáng về nghiên cứu vừa là động lực thúc đẩy và có tác động tích cực đến hoạt động nghiên cứu chung của Trường Đại học Công nghệ”, PGS TS Nguyễn Việt Hà chia sẻ.

Những nỗ lực không ngừng nghỉ của GS Nguyễn Đình Đức trong nghiên cứu, ứng dụng cũng như trong đào tạo nhân tài cho thấy vai trò quan trọng của việc gắn kết đào tạo với nghiên cứu và hình thành, phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh trong các trường đại học để giải quyết các vấn đề thực tiễn của Việt Nam và vươn tầm ra thế giới. Những trí thức trẻ được đào tạo bài bản và trưởng thành trong các phòng thí nghiệm “made in Vietnam” 100% với tầm vóc và kết quả nghiên cứu như vậy sẽ là nguồn nhân lực chất lượng cao của đất nước. Những phòng thí nghiệm và nhóm nghiên cứu như của GS Nguyễn Đình Đức và các học trò – thành tài vươn lên từ khó khăn, bằng nội lực chính là những tấm gương, điểm sáng tiêu biểu cho thành công của giáo dục đại học Việt Nam.

Lê Vân/Báo Tin tức

Den hochschulen kommt in der bildung eine besondere bedeutung zu, denn studierende sind bedeutsame entscheiderinnen und Sie konnen dies ausprobieren entscheider sowie gestalterinnen und gestalter unserer gesellschaft von morgen.

GS Nguyễn Đình Đức tham gia tọa đàm về đào tạo tiến sỹ tại Việt Nam

Ngày 10.11 vừa qua, tại Trụ sở Bộ giáo dục và Đào tạo đã diễn ra buổi Tọa đàm về đào tạo tiến sỹ ở Việt Nam hiện nay do Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Báo Tuổi trẻ  tổ chức. Các vị khách của buổi Tọa đàm có: GS.TSKH Bùi Văn Ga, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, GS.TSKH Trần Văn Nhung, Tổng thư ký Hội đồng chức danh Giáo sư Nhà nước, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, Trưởng Ban Đào tạo (Đại học và Sau đại học) của ĐHQGHN và PGS.TS Vũ Lan Anh, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Luật Hà Nội.

Tại buổi tọa đàm, các vị khách mời đã thẳng thắn phân tích những tồn tạ, hạn chế và chất lượng của hoạt động đào tạo tiến sỹ hiện nay. Bên cạnh những NCS, Tiến sỹ có chất lượng luận án tiến sỹ tốt, cũng còn những luận án tiến sỹ chưa có chất lượng, gây ra những bức xúc trong xã hội.

Trả lời câu hỏi nóng tại buổi Tọa đàm “Có một thực tế rõ ràng là chất lượng luận án tiến sĩ ở các cơ sở đào tạo không đồng đều và có thể vàng thau lẫn lộn. Nhiều luận án ít giá trị thực tế, không có tính khoa học, như một báo cáo tổng kết… nhưng nghiên cứu sinh vẫn bảo vệ luận án thành công và được cấp bằng tiến sĩ. Liệu có phải do đào tạo tiến sĩ hiện đang chạy theo số lượng và xem nhẹ chất lượng. Quan điểm của Bộ về nhận định này?”, Thứ trưởng Bùi Văn Ga cho rằng trước hết phải ghi nhận các cơ sở đào tạo đã nỗ lực để đào tạo nhiều tiến sĩ có chất lượng trong điều kiện cơ sở vật chất, điều kiện nghiên cứu và đào tạo trong nước còn nhiều hạn chế. Tuy nhiên vẫn có cơ sở đào tạo chạy theo số lượng mà buông lỏng chất lượng”. Theo Thứ trưởng Bùi Văn Ga: “Thực tế, nghiên cứu sinh là các nhà nghiên cứu, sản sinh ra tri thức, trí tuệ mới. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu sinh không xác định rõ động cơ, mục tiêu, không xác định rõ tầm mức hoạt động nghiên cứu của bậc đào tạo tiến sĩ. Ngoài ra, mức đầu tư cho đào tạo tiến sĩ tại Việt Nam hiện cũng rất thấp, thấp hơn nhiều lần so với mức trung bình của thế giới”- thứ trưởng Ga nhấn mạnh.

Cũng chia sẻ về nguyên nhân dẫn đến những bất cập trong đào tạo tiến sĩ khiến dư luận bức xúc, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, Trưởng Ban Đào tạo (ĐH Quốc gia Hà Nội) nhắc lại: “Năm 1976, VN lần đầu tiên đào tạo phó tiến sĩ trong nước. 6 năm sau đào tạo tiến sĩ trong nước trong điều kiện khó khăn. Khó khăn là thế nhưng chất lượng tiến sĩ rất tốt, không có ai kêu ca”.

GS Đức nhận xét: “Trải qua một thời gian dài, việc đào tạo tiến sĩ hiện nay ở Việt Nam đang dần tiếp cận với các chuẩn mức của quốc tế. Có nhiều nghiên cứu sinh trong nước hiện nay có nhiều bài báo công bố trên tạp chí quốc tế có uy tín. Nhiều cơ sở đào tạo cũng đã nỗ lực hướng tới việc đào tạo tiến sỹ có chất lượng tốt. Nhưng phải thừa nhận vẫn có những luận án chưa có chất lượng, chưa đạt yêu cầu”.

Theo GS Đức, tuy cơ sở vật chất chưa đầu tư thỏa đáng, điều kiện nghiên cứu, đào tạo còn thiếu thốn là một nguyên nhân nhưng nhìn lại trước đây, cũng khó khăn nhưng ta đã có nhiều tiến sĩ có chất lượng tốt. Bởi vậy, bất cập hiện nay cần nhìn rộng ra ở những nguyên nhân khác. GS Đức có nêu một số nguyên nhân như:  quy mô đào tạo quá nhiều,  thứ hai là mất cân đối giữa các khối ngành (Hiện nay nghiên cứu sinh khối ngành khoa học tự nhiên công nghệ chỉ bằng khoảng 1/4 so với nghiên cứu sinh khối ngành khoa học xã hội nhân văn và kinh tế, luật), thứ ba là một số nơi, một số chỗ cơ sở đào tạo/giảng viên hướng dẫn luận án còn quản lý lỏng lẻo và dễ dãi trong việc giao hướng dẫn và đề tài luận án cũng như đánh giá chất lượng luận án của nghiên cứu sinh ( Hiện nay cả nước đang triển khai đào tạo 971 ngành tiến sĩ tại 158 cơ sở đào tạo, trong đó có 114 trường đại học, 42 viện nghiên cứu. Quy mô đào tạo tiến sĩ năm học 2015-2016 là 13.598 nghiên cứu sinh  Nguồn: Bộ GD-ĐT) và không thể không nhắc đến việc đầu tư cho đào tạo tiến sỹ hiện nay quá thấp.

GS.TSKH Trần Văn Nhung cho rằng tới đây, khi Bộ GD-ĐT sửa đổi quy chế đào tạo tiến sĩ, trước hết cần phải đưa ra được định nghĩa đầy đu về khái niệm tiến sĩ. Trên thế giới và các nước đều có định nghĩa rất rõ ràng về tiến sĩ. Ngoài ra, cần có quy định chặt chẽ “ai là phản biện, ai nằm trong hội đồng” với những tiêu chuẩn đi kèm không thể thấp được. GS Nhung đề nghị tiêu chuẩn tiến sĩ cần đỏi hỏi những tiêu chuẩn cụ thể. Ví dụ với khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ, phải có đóng góp mới  về khoa học, yêu cầu không dưới 2 bài báo quốc tế trên các tạp chí  ISI. Riêng khoa học xã hội và nhân văn không bắt buộc có các công bố quốc tế ngay, nhưng cũng cần có những tiêu chuẩn định lượng rành mạch và có lộ trình để từng bước tiếp cận các chuẩn mực của thế giới (Ngay cả ngành khối xã hội nhân văn, ở các nước tiên tiến cũng yêu cầu nghiên cứu sinh khi bảo vệ luận án cũng phải có công bố quốc tế- GS Nhung nhấn mạnh).

PGS.TS Vũ Thị Lan Anh cũng cho rằng ngoài các nguyên nhân và các yếu tố như trên, cũng cần chú trọng đến chất lượng và tiêu chuẩn của người hướng dẫn luận án, gắn đào tạo với nghiên cứu, trình độ ngoại ngữ của nghiên cứu sinh. Các cơ sở cũng cần phải chuẩn bị các điều kiện như : Cán bộ hướng dẫn, phòng thí nghiệm, học liệu.

Đồng tình với các ý kiến trên, GS Nhung chia sẻ: kinh phí đầu tư cho một nghiên cứu sinh một năm như GS Đức dẫn chứng tại ĐHQG HN ở mức 18 triệu đồng là “quá rẻ”, “không có nước nào với giá như thế mà làm được”. Với mức đầu tư quá thấp như vậy mà đòi hỏi chất lượng ngang với các nước tiên tiến như nước Mỹ thì “ngang với biến hóa thần thông”. Vì vậy, theo GS Nhung, ngoài việc chia sẻ với lo lắng của xã hội về chất lượng đào tạo tiến sĩ, chính Bộ GD-ĐT cùng các cơ sở đào tạo cũng phải có trách nhiệm giải thích rõ những bất cập hiện tại trong điều kiện đào tạo tiến sĩ, cần tăng cường đầu tư mạnh mẽ hơn cho bậc đào tạo này.

Thứ trưởng Bùi Văn Ga cũng xác nhận kinh phí đào tạo thấp là khó khăn, vướng mắc lớn trong đào tạo tiến sĩ (các đơn vị đào tạo khác, kinh phí cho đào tạo tiến sĩ là 15 triệu đồng/năm).

Kết luận buổi tọa đàm, Thứ trưởng Ga đánh giá: Ý kiến của các khách mời đã xới lên nhiều vấn đề trong đào tạo tiến sĩ. Quan điểm của Bộ GD-ĐT khi đặt ra việc sửa đổi quy chế đào tạo tiến sĩ là không chỉ thực hiện theo chủ quan của nhóm soạn thảo của Bộ mà rất cần chất xám của nhiều nhà khoa học, các chuyên gia ở nhiều lĩnh vực, các nhà quản lý….Có thể khi trưng cầu ý kiến, quan điểm, ý nguyện của các cơ sở đào tạo không đồng nhất với ý kiến các nhà khoa học, các chuyên gia. Nhưng việc xem xét cân nhắc trên nhiều kênh khác nhau là rất cần thiết để có thể xây dựng một quy chế sửa đổi, bổ sung tốt nhất có thể, giải quyết được những bất cập kéo dài trong thời gian qua.

Theo Vĩnh Hà – Ngọc Hà (Tuoitre.vn).

Các đường link khác của các báo đưa tin thảo luận về chủ đề này:

http://tuoitre.vn/tin/giao-duc/20161110/luan-an-khong-co-gia-tri-sao-van-thanh-tien-si/1216834.html

http://www.tienphong.vn/giao-duc/dao-tao-tien-si-siet-so-luong-de-nang-cao-chat-luong-1072080.tpo

http://dantri.com.vn/su-kien/chat-luong-dao-tao-tien-si-viet-nam-thap-nguyen-nhan-do-dau-20161110121910596.htm

http://dantri.com.vn/blog/tien-si-hu-danh-cong-trinh-giai-ngan-va-vang-thau-lan-lon-20161112062720473.htm

http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/tuyen-sinh/chua-co-nuoc-nao-dao-tao-tien-si-re-nhu-viet-nam-339001.html

http://thanhnien.vn/giao-duc/nang-cao-chat-luong-dao-tao-tien-si-625980.html

http://vnexpress.net/tin-tuc/giao-duc/dao-tao-tien-si-se-duoc-siet-chat-3497219.html

http://www.qdnd.vn/van-hoa-giao-duc/giao-duc/ban-giai-phap-nang-cao-chat-luong-dao-tao-tien-si-492329

http://cand.com.vn/giao-duc/Siet-chat-cac-dieu-kien-dau-vao-dao-tao-tien-si-416521/

http://toquoc.vn/giao-duc/that-tieu-chi-de-nang-cao-chat-luong-dao-tao-tien-si-218587.html

http://vietbao.vn/Giao-duc/Dao-tao-tien-si-Toa-dam-nhung-van-de-nong/442541920/202/

http://www.baomoi.com/nang-cao-chat-luong-dao-tao-tien-si-de-hoi-nhap-quoc-te/c/20799962.epi

http://tinnonghomnay.net/toa-dam-mo-xe-nhung-bat-cap-trong-dao-tao-tien-si/

http://www.antv.gov.vn/tin-tuc/xa-hoi/nhan-dien-chat-luong-dao-tao-tien-si-o-viet-nam-198195.html

http://vietbao.vn/Giao-duc/Muon-bao-ve-tien-si-phai-co-cong-bo-khoa-hoc-quoc-te/590000212/202/

http://baochinhphu.vn/Giao-duc/Dao-tao-tien-si-Muon-chat-luong-can-dau-tu-tuong-xung/291248.vgp

You have given android spy apps your device the evasi0n look.

Nhân tài giúp nguyên khí quốc gia mạnh lên

(GDVN) – Thời đại nào cũng vậy, nhất là thời đại mà sự hội nhập và cạnh tranh kinh tế đang diễn ra nhanh và quyết liệt trên quy mô toàn cầu.

LTS: Kinh nghiệm cho thấy chìa khóa của sự tăng trưởng vượt bậc của các nước châu Á trong những thập kỷ gần đây như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc chính là bởi các nước này đã thành công trong việc phát hiện, đào tạo và sử dụng nhân tài. 

Nếu không có nguồn lực trí tuệ để tạo ra những bước phát triển đột phá, các nước kém phát triển sẽ ngày càng tụt hậu và chịu sự lệ thuộc vào các nước phát triển.

Chính vì vậy, việc phát hiện, đào tạo và bồi dưỡng, trọng dụng, tạo điều kiện để nhân tài được phát huy tài năng, đóng góp thiết thực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là một yêu cầu cấp bách, không thể chậm trễ, có ý nghĩa sống còn vì thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Bài viết sau đây của GS.TSKH Nguyễn Đình Đức – Trưởng ban Đào tạo (đại học và sau đại học) của Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) sẽ giúp chúng ta có cái nhìn khái quát nhất về tầm quan trọng trong việc đào tạo nhân tài cho đất nước từ mô hình cụ thể là ĐHQGHN. 

GS. Nguyễn Đình Đức viết: Triết lý trong đào tạo của ĐHQGHN là đào tạo nhân tài, đào tạo tinh hoa. Đào tạo ở ĐHQGHN không chỉ nhằm trang bị cho sinh viên đầy đủ kiến thức, năng lực sáng tạo, phẩm chất đạo đức, mà còn chú trọng đào tạo cho sinh viên các kỹ năng và năng lực tổ chức, đặc biệt là phát triển tư duy, tầm nhìn, tạo cho sinh viên có đầy đủ bản lĩnh và nghị lực để vào đời và sáng nghiệp.

Để có thể hoàn thành được sứ mệnh này, ĐHQGHN (tiền thân là Đại học Tổng hợp Hà Nội) luôn coi trọng việc phát hiện tài năng ngay từ bậc học phổ thông và tiếp theo đó là những năm trên giảng đường đại học.

ĐHQGHN đã xây dựng và hoàn chỉnh các mô hình đào tạo chất lượng cao liên tiếp từ học sinh phổ thông năng khiếu, đến đại học các hệ chất lượng cao, khoa học tài năng và chuẩn quốc tế hay còn gọi là nhiệm vụ chiến lược (riêng chuẩn quốc tế có cả ở cả bậc đại học và sau đại học).


Ảnh minh họa Xuân Trung.

Năng khiếu là bẩm sinh, nhưng nhân tài, những người tài đức không phải tự nhiên sinh ra là có, mà phải do được phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, thử thách và rèn luyện mà nên. Chính vì vậy, việc phát hiện, đào tạo, sử dụng nhân tài luôn là điều quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước ta, và là nhiệm vụ hàng đầu của cơ sở giáo dục đại học lớn như ĐHQGHN.

Để chuẩn bị cho triển khai đào tạo tài năng, chất lượng cao, mấu chốt quan trọng nhất là phải chuẩn bị được đội ngũ và xây dựng được chương trình đào tạo tốt, phù hợp. Kế tiếp đó là phải chuẩn bị các điều kiện đảm bảo chất lượng phục vụ công tác đào tạo.

Thuận lợi lớn nhất của ĐHQGHN là luôn có đội ngũ cán bộ khoa học đông đảo và mạnh trong hệ thống các trường đại học của cả nước.Hiện nay, ĐHQGHN có 3.613 cán bộ viên chức, trong đó có 1879cán bộ khoa học với 51 GS, 336 PGS, 17 TSKH và 864 TS (tỷ lệ TS/CBGD đạt 46,8%, trong đó có 581 TS được đào tạo ở nước ngoài về).

Trường ĐHKHTN và Trường ĐHCN là 2 đơn vị có tỷ lệ tiến sỹ cao, chiếm trên 65%  tổng số CBGD. Đội ngũ cán bộ của ĐHQGHN có thế mạnh là có nhiều nhà khoa học đầu ngành (với 15 giải thưởng Hồ Chí Minh và 10 giải thưởng Nhà nước về KHCN), có uy tín lớn ở trong và ngoài nước về các ngành, chuyên ngành khác nhau thuộc hầu hết các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn, ngoại ngữ, công nghệ, kinh tế, luật học, giáo dục,…

Bên cạnh đó, ĐHQGHN đã thu hút thêm khoảng 300 GS, PGS của các cơ sở nghiên cứu và đào tạo trong cả nước và hàng trăm nhà khoa học có uy tín của thế giới, trong đó có một số người đạt giải Nobel và các giải thưởng lớn có uy tín khác cùng tham gia đào tạo, nghiên cứu khoa học.

Giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Anh

Năm 2005, ĐHQGHN đã tiến hành tổng kết Dự án “Đào tạo nguồn nhân lực tài năng”. Từ 1997-2005, đã có 1.940 sinh viên, 387 học viên và 156 NCS đã tham gia Dự án này.

Với những thành công và bài học kinh nghiệm sau gần 10 năm thí điểm, Đảng và Nhà nước đã đánh giá cao mô hình đào tạo tài năng bậc đại học của ĐHQGHN,đồng thời chỉ đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo và các bộ ngành liên quan nghiên cứu xây dựng chế độ chính sách tạo điều kiện thuận lợi để phát triển và mở rộng mô hình bồi dưỡng và đào tạo tài năng, chất lượng cao của ĐHQGHN.

GS. TSKH Nguyễn Đình Đức – tác giả bài viết. Ảnh Xuân Trung

Trên cơ sở chỉ đạo đó, ĐHQGHN đã được Nhà nước đầu tư, tiếp tục triển khai đào tạo tài năng, chất lượng cao nhưng với tư cách là một nhiệm vụ thường xuyên.

Từ năm 2006 trở đi, để tăng cường hội nhập các chuẩn mực quốc tế, trong khi quy mô đào tạo cử nhân tài năng, chất lượng cao còn nhỏ, mức độ “quốc tế hoá” về chương trình, phương pháp đào tạo, ngôn ngữ sử dụng chưa đủ cao, ĐHQGHN bắt đầu triển khai đào tạo các chương trình tiên tiến.

Chương trình đào tạo tiên tiến là các chương trình đào tạo bậc đại học, sử dụng toàn bộ chương trình, giáo trình của một đại học nước ngoài, giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Anh. Đội ngũ giảng viên của Việt Nam và một số giảng viên nước ngoài. Chương trình này chỉ đảm nhận việc phát triển quốc tế hóa một chương trình đào tạo, chưa nhằm mục tiêu phát triển được cả ngành, đơn vị cấp Khoa đạt chuẩn quốc tế.

Tiếp sau chương trình tiên tiến, năm 2007, ĐHQGHN bắt đầu triển khai các chương trình đào tạo đạt chuẩn quốc tế, còn gọi là chương trình nhiệm vụ chiến lược (ban đầu được gọi là chương trình 16-23, vì tập trung lựa chọn được 16 ngành đại học và 23 chuyên ngành sau đại học tham gia Đề án).

Mục tiêu của chương trình này là xây dựng và phát triển cả ngành, chuyên ngành đạt chuẩn quốc tế, từ chương trình đào tạo đến đội ngũ, cơ sở vật chất, học liệu, nguồn nhân lực theo các tiêu chí đánh giá xếp hạng nhằm tạo tiền đề và điều kiện để phát triển từng bướctừ bộ môn, khoa đến trường đại học thành viên đạt chuẩn quốc tế và được đầu tư, phê duyệt theo từng đề án cho từng ngành/chuyên ngành.

Đây là mục tiêu và sách lược quan trọng của ĐHQGHN trong quá trình phát triển, nhằm chọn lọc vun cao, từng bước khả thi nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao tri thức và sức cạnh tranh, thương hiệu của ĐHQGHN, góp phần đổi mới cơ bản giáo dục đại học Việt Nam tiếp cận các chuẩn mực và chất lượng quốc tế.

Trái tim đào tạo tài năng

Việc tổ chức đào tạo nguồn nhân lực tài năng, chương trình tiên tiến được đào tạo ở bậc đại học; với các chương trình chất lượng cao và nhiệm vụ chiến lược đã được triển khai đào tạo cả ở bậc đại học và sau đại học.

Chương trình đào tạo được thiết kế tiếp cận và có so sánh với chương trình đào tạo của một số trường đại học có uy tín quốc tế cao.Với các chương trình tiên tiến và nhiệm vụ chiến lược chọn theo chương trình của các trường nằm trong nhóm 100 trường đại học tốt nhất thế giới.

Các chương trình tài năng và chất lượng cao đáp ứng phù hợp 80% các môn học trong chương trình đào tạo của các trường đại học tiên tiến của nước ngoài. Môn số chương trình trong khối xã hội nhân văn có đặc thù riêng, được thiết kế có tính đến sự phù hợp với điều kiện của Việt Nam.

Chương trình đào tạo cử nhân tài năngđược thiết kế riêng đối với những sinh viên xuất sắc, có năng khiếu về một ngành khoa học cơ bản, được thiết kế từ 160 đến 170 tín chỉ, với yêu cầu về trình độ cao hơn và nội dung rộng hơn so với chương trình chuẩn.

Chuẩn đầu ra của chương trình cũng cao hơn chương trình chuẩn, ví dụ chuẩn đầu ra tiếng Anh là C1 (tương đương 6.5 IELTS)

Chương trình đào tạo cử nhân chất lượng caođào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đạt chuẩn khu vực trong các lĩnh vực khoa học cơ bản, công nghệ cao, kinh tế – xã hội mũi nhọn và ngoại ngữ, được thiết kế từ 140 đến 155 tín chỉ, trên cơ sở nâng cao, bổ sung một số môn học so với chương trình chuẩn.

Chương trình đào tạo đạt chuẩn quốc tế (tiên tiến -TT, nhiệm vụ chiến lược-NVCL) đào tạo theo chương trình và công nghệ đào tạo của các trường đại học tiên tiến có uy tín cao trên thế giới, được điều chỉnh phù hợp với khả năng, điều kiện của ĐHQGHN, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và đạt mức độ cao nhất theo các tiêu chí kiểm định chất lượng của ĐHQGHN, được thiết kế từ 140 đến 155 tín chỉ.

Ngoài việc trang bị kiến thức sâu và rộng, sinh viên được nâng cao trình độ tiếng Anh và Tin học cũng như các kỹ năng mềm khác (yêu cầu của ĐHQGHN về chuẩn đầu ra là sinh viên tối thiểu có chứng chỉ 5 kỹ năng mềm/100 kỹ năng được định dạng đào tạo). Với các chương trình thạc sỹ của ĐHQGHN, ngoài 4 tín chỉ tiếng Anh cơ bản, học viên còn phải học thêm 3 tín chỉ tiếng Anh chuyên ngành, và với NCS còn có thêm 4 tín chỉ nữa dành cho tiếng Anh học thuật nâng cao.

GS. Nguyễn Đình Đức trên giaoduc.net.vn

 

It features some of the popular titles to utilize with your kids to teach them basics of math and enhance their mathematical thinking.

GS Nguyễn Đình Đức tham dự phiên họp thứ nhất Hội đồng Khoa học Đào tạo của Đại học Việt Nhật tại Nhật Bản

Từ ngày 23-27.11.2016, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, Giám đốc Chương trình Kỹ thuật hạ tầng, thành viên Hội đồng Khoa học và Đào tạo đã tham gia phiên họp lần thứ nhất của Hội đồng Khoa học và Đào tạo Đại học Việt Nhật tại Nhật Bản (chuyến đi do JICA tài trợ). Hội nghị đã thảo luận chiến lược và định hướng phát triển Đại học Việt Nhật đến năm 2025, cũng như kế hoạch tuyển sinh cho năm 2017.  Nhân dịp này, đoàn các giáo sư của Đại học Việt Nhật do GS Furuta, Hiệu trưởng dẫn đầu đã có chuyến thăm và ký kết hợp tác với Đại học Osaka, tư vấn tuyển sinh tại thành phố Nayoga, tại Đại học Waseda – Tokyo. Nhân dịp này, GS Nguyễn Đình Đức cũng đã trao đổi hợp tác với GS Kato Hironori, ĐH Tokyo, đồng giám đốc chương trình phía Nhật Bản. GS Nguyễn Đình Đức cũng đã có chuyến thăm và trao đổi hợp tác với GS Shimoyama Isao – ĐH Tokyo, trao đổi và giới thiệu với một số lưu học sinh và các tiến sỹ trẻ người Việt Nam đang học tập và công tác tại Nhật Bản. 

       img_1167

Đoàn công tác của Đại học Việt Nhật: GS Furuta Hiệu trưởng và các GS giám đốc các chương trình, Tokyo, 11-2016

     img_1160

GS Nguyễn Đình Đức, Osaka, Nhật Bản, 11-2016

Tin về chuyến đi của đoàn trên các chương trình Thời sự của Việt Nam:

Mt 8 newer post older post home march 8, 2017 as we have stated elsewhere, ‘designing learning games is a great way to develop https://writemyessay4me.org students analytic thinking and foster self-expression.

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức – người Thầy của những học trò xuất sắc “made in Vietnam”

Nói đến GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, Trưởng Phòng thí nghiệm Vật liệu và Kết cấu Tiên tiến của Trường Đại học Công nghệ, ĐHQGHN – là nhắc đến các học trò thành đạt và giỏi giang với các công trình xuất sắc – made in Vietnam 100% , được đăng trên các tạp chí quốc tế có uy tín.

Nguyễn Đình Đức – Người thầy thắp sáng những tài năng

Là người thầy tận tụy và tâm huyết với nghề, với những bài giảng hay, truyền cho học trò cả kiến thức và những cốt lõi và sâu xa trong từng môn học, GS Nguyễn Đình Đức đã thắp lên ở các học trò niềm đam mê với nghề nghiệp và cuốn hút, khơi dậy ở họ những tiềm năng. Chính vì vậy, điều kỳ lạ không phải tất cả các học trò đến với ông đều là sinh viên giỏi, nhưng được ông dìu dắt, các em trở nên say mê và có những em từ học lực trung bình, khá cho đến khi tốt nghiệp đại học đều trở thành học sinh giỏi và xuất sắc.

Hầu hết tất cả các sinh viên trong nhóm nghiên cứu của ông khi tốt nghiệp kỹ sư đều có kết quả nghiên cứu được công bố trên các tạp chí quốc tế ISI có uy tín. Trong số các học trò của ông thành đạt và được biết đến, như NCS Trần Quốc Quân, SN 1991, chuyển tiếp nghiên cứu sinh (nay đang thực tập tại Vương quốc Anh) đã có 15 bài báo trên các tạp chí quốc tế ISI, Phạm Hồng Công, SN 1992, nay đã có 18 bài báo ISI, Phạm Toàn Thắng SN 1991 khi tốt nghiệp đại học ra trường đã có 5 bài báo ISI (nay đang làm NCS tại Hà Quốc), Vũ Thị Thùy Anh (đang làm NCS, đã có 6 bài ISI), Hoàng Văn Tùng (khi làm luận án và bảo vệ luận án TS năm 2010 đã có 5 bài ISI), còn có các em sinh viên khác đều đã có kết quả chung với thầy công bố trên các tạp chí quốc tế ISI như: Vũ Đình Quang, Vũ Minh Anh, Nguyễn Văn Quyền, Trần Văn Anh, Vũ Đình Luật, Hoàng Văn Tác, Nguyễn Trọng Đạo, Ngô Tất Đạt, Phạm Thị Ngọc Ân và đặc biệt có em còn rất trẻ, mới học hết năm thứ 3 như Phạm Đình Nguyện,…

Điều đáng trân trọng là thầy và trò đều công bố quốc tế với nội lực 100% made in Việt Nam, trong điều kiện rất khó khăn và thiếu thốn về kinh phí, CSVC, phòng thí nghiệm (PTN). Và đáng quý trọng và khâm phục là tất cả các học trò này của GS Đức đều là các em ở các tỉnh xa, con nhà nghèo, trong số đó có những em có hoàn cảnh gia đình đặc biết khó khăn.

Như vậy có thể thấy để nâng cao chất lượng đào tạo, cần và phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, nhưng yếu tố người Thầy là trước tiên và là quan trọng nhất, và chính người Thầy và môi trường ĐHQGHN đã thắp sáng tài năng ở các em. Thầy còn rèn giũa cho các em kỹ năng làm việc theo nhóm, dìu dắt nhau cùng tiến bộ và chỉ dẫn tận tình để các em biết cách tự đọc và tự nghiên cứu, tự nâng cao năng lực kiến thức chuyên môn ngoài những nội dung đã được trang bị trong chương trình đào tạo.

GS Nguyễn Đình Đức nhận bó hoa tươi thắm từ đồng nghiệp, học trò nhân ngày 20-11
GS Nguyễn Đình Đức nhận bó hoa tươi thắm từ đồng nghiệp, học trò nhân ngày 20-11

GS Nguyễn Đình Đức tiếp cận những hướng nghiên cứu mới, hiện đại của Thế giới

Để có được những thành công trên, không chỉ là sự yêu nghề và tâm huyết, mà người thầy phải có trình độ trí thức cao và tư duy nhạy bén, tiếp cận được các hướng nghiên cứu hiện đại của thế giới.

Trước đây khi còn ở nước ngoài, GS Nguyễn Đình Đức nghiên cứu về vật liệu composite bền và siêu bền nhiệt cacbon-cacbon, được ứng dụng mạnh mẽ trong công nghệ hàng không và vũ trụ, trong công nghệ chế tạo tên lửa. Khi về nước, ông đã nhanh chóng bắt tay vào nghiên cứu vật liệu polymer composite ứng dụng trong điều kiện của Việt Nam, trong đó kết quả nghiên cứu ứng dụng hạt nano để tăng khả năng chống thấm và các tính năng cơ lý cho composite đã được ứng dụng vào công nghiệp đóng tàu composite và được Cục sở hữu trí tuệ cấp Bằng Giải pháp hữu ích.

Năm 2006, nhân chuyến công tác ngắn có mấy ngày tại JAIST (Viện KHCN tiên tiến của Nhật Bản), GS đã tranh thủ vào thư viện tìm hiểu, tiếp cận về vật liệu composite chức năng FGM (vật liệu có cơ lý tính biến đổi).

Ngay sau đó, khi về nước, GS đã bắt tay vào nghiên cứu vấn đề này và 2 năm sau, năm 2008 đã có những kết quả nghiên cứu đầu tiên về FGM được công bố ở Việt Nam. Kể từ đó đến nay, vật liệu FGM đã được nhiều nhà khoa học ở các cơ quan đào tạo và nghiên cứu khác nhau trên cả nước quan tâm nghiên cứu và đã công bố hàng trăm bài báo về vật liệu này. GS Nguyễn Đình Đức và PTN vật liệu và kết cấu tiên tiến do GS phụ trách đã tiếp cận những hướng nghiên cứu rất mới và hiện đại như nano FGM, vật liệu auxetic (có hệ số Poát xông âm, có khả năng hấp thụ sóng nổ, bảo vệ kết cấu – công trình), vật liệu nano composite ứng dụng trong năng lượng sạch, năng lượng tái tạo.

GS Đức cho biết, chiến lược phát triển của PTN trong những năm tới đây là đi vào 3 lĩnh vực nghiên cứu phục vụ thực tiễn: Civil Engineering (liên quan đến tính toán vật liệu và kết cấu cho các công trình giao thông, xây dựng và kỹ thuật hạ tầng); năng lượng mới; biến đổi khí hậu (tính toán dự báo mưa, lũ và các giải pháp thiết kế, thi công các công trình hạ tầng thích ứng với biến đổi khí hậu).

Đến nay, PTN của GS đã và đang có quan hệ, hợp tác với các nhà khoa học có uy tín trong các trường đại học hàng đầu của Nhật Bản, Hàn Quốc, Vương quốc Anh, Úc, Canada,…để triển khai các nghiên cứu này và GS cũng là một trong số ít nhà khoa học Việt Nam được Quỹ Newton của Viện Khoa học Công nghệ Hoàng gia Anh tài trợ nghiên cứu – hợp tác.

Đến nay, các thành viên của PTN đã có hơn adana escort adana escort adana escort mersin escort mersin escort mersin escort eryaman escort ankara escort eryaman escort adana escort eryaman escort mersin escort 100 công bố quốc tế ISI, 1 bằng phát minh, 2 bằng sáng chế và đào tạo đại học từ bậc kỹ sư đến tiến sỹ ngành cơ học kỹ thuật, thu hút được nhiều tiến sỹ trẻ của các trường đại học lớn ở trong và ngoài nước cùng hợp tác đào tạo và nghiên cứu. Có thể thấy mô hình xây dựng PTN bằng nội lực trong nước, từng bước chắc chắn, phát triển dần từ nhóm nghiên cứu đến thành lập tổ chức PTN, gắn kết chặt chẽ đào tạo với nghiên cứu, gắn nghiên cứu với thực tiễn như PTN Vật liệu và Kết cấu tiến tiến của GS Đức ở Trường Đại học Công nghệ – ĐHQGHN là mô hình hay, rất phù hợp với Việt Nam.

Hiện nay, Nhóm nghiên cứu của GS Đức mỗi năm công bố 10-15 bài báo trên các tạp chí ISI có uy tín, được mời báo cáo tại các hội nghị quốc tế lớn, cho thấy trình độ và uy tín không thua kém các nhóm nghiên cứu mạnh nhất của quốc tế. Với sự ủng hộ và quan tâm của lãnh đạo ĐHQGHN và trường ĐH Công nghệ, những năm tới PTN chắc chắn sẽ phát triển mạnh mẽ hơn nữa, đào tạo được nhiều nhân tài hơn nữa cho đất nước.

Chỉ trong thời gian ngắn xây dựng và hoạt động, PTN Vật liệu và Kết cấu tiên tiến đã được biết đến trong cộng đồng khoa học trong và ngoài nước. GS Nguyễn Đình Đức – Trưởng PTN đã được mời tham gia hội đồng biên tập của nhiều tạp chí khoa học ở trong và ngoài nước, làm chuyên gia nhận xét, phản biện cho 40 tạp chí khoa học có uy tín của quốc tế.

GS Đức và các học trò của mình
GS Đức và các học trò của mình

GS Nguyễn Đình Đức Người thầy gắn trọn với sự nghiệp đào tạo và nghiên cứu của ĐHQGHN

Không chỉ là nhà giáo, nhà khoa học tâm huyết, GS Nguyễn Đình Đức còn có bề dày trong công tác quản lý các hoạt động khoa học và đào tạo. Hiện nay, GS Đức là Trưởng Ban Đào tạo (Đại học và Sau Đại học) của ĐHQGHN, ông cũng đã kinh qua các cương vị như Trưởng Ban KHCN của ĐHQGHN, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ.

Trên các cương vị của mình, GS đã có những đề xuất và đóng góp tích cực và hiệu quả góp phần vào việc đào tạo và bồi dưỡng nhân tài, xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh, đổi mới công tác quản lý đào tạo và nghiên cứu khoa học tiếp cận các chuẩn mực quốc tế, đóng góp tích cực trong công tác đổi mới tuyển sinh, nâng cao chất lượng đào tạo tiến sỹ, xây dựng các mô hình đào tạo mới.

GS cũng là nhà khoa học đã kiên trì và bền bỉ gắn ngành Cơ học tưởng như rất khô khan và chỉ có lý thuyết, chỉ có những công thức và định luật nghiên cứu cơ bản ở ĐHQGHN với các ngành nghề cụ thể và với việc giải quyết các vấn đề của thực tiễn.

GS là người đã đề xuất và phụ trách tổ chuyên gia xây dựng chương trình đào tạo tiến sỹ Cơ học Kỹ thuật, là người sáng lập PTN Vật liệu và Kết cấu tiên tiến của trường ĐHCN. GS cũng là người đã đề xuất và có những đóng góp quan trọng xây dựng và triển khai đào tạo ngành Kỹ thuật hạ tầng ở Trường Đại học Việt Nhật và hiện nay GS cũng là Giám đốc của chương trình này.

Với những đóng góp xuất sắc và bền bỉ cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo, Nhà giáo – người Thầy – GS.TSKH Nguyễn Đình Đức đã nhiều năm được công nhận là chiến sỹ thi đua, được tặng nhiều Bằng khen của Giám đốc ĐHQGHN, Bằng khen của Thủ tướng Chính Phủ, năm học 2015-2016 ông là chiến sỹ thi đua của ngành Giáo dục Đào tạo và được Chủ tịch nước tặng Huân chương Lao động hạng III (2016).

Theo Nhật Hồng, dantri.com.vn

Giới thiệu Phòng thí Nghiệm Vật liệu và Kết cấu tiên tiến

Xem chi tiết tại đây

Utilizing these tools will enable you to essay writer service https://pro-essay-writer.com create personalized games that suit your own teaching and learning context.

GS NGUYEN DINH DUC được mời tham gia Ban biên tập của tạp chí quốc tế ISI

GS Nguyễn Đình Đức vinh dự được mời mời tham gia vào Ban biên tập quốc tế của tạp chí quốc tế ISI : Journal of Science and Engineering of Composite Materials (NXB De GRUYTER, IF=0.515): http://www.degruyter.com/view/j/secm.
Đồng thời, GS Nguyễn Đình Đức cũng được mới là Guest Editor của chuyên san “Advances in hybrid composite materials and structures” (Nhà xuất bản SAGE) của Tạp chí ISI Advances in Mechanical Engineering, NXB SAGE, IF=0.55): http://ade.sagepub.com/site/callforpapers/advances-hybrid-composite-materials-structures.xhtml
Như vậy, uy tín của nhóm nghiên cứu ngày càng vươn xa ra cộng đồng khoa học quốc tế.

Dabei erfolgt eine stetige vernetzung zu themen der gesundheitspsychologie Lesen Sie den Artikel und der gesundheitssoziologie sowie zur didaktik der gesundheitsfrderung.

BÁO CÁO THƯỜNG NIÊN VỀ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG NĂM 2015 CỦA NHÓM NGHIÊN CỨU

Trưởng nhóm: GS.TSKH Nguyễn Đình Đức

Năm 2015 đã khép lại và năm mới 2016 đã bắt đầu, nhìn lại chặng đường 1 năm của Nhóm nghiên cứu về vật liệu và kết cấu composite – Đại học Quốc gia Hà Nội (NNC), chúng ta có thể thấy trong năm qua NNC đã nỗ lực vượt bậc và thu được nhiều kết quả tốt đẹp:

Continue reading

Tin vui: Đề án hợp tác với University of Birmingham – UK được Newton Fund – UK thông qua tài trợ

Ngày 15/12/2015, chúng tôi vừa nhận được thông báo chính thức của bên UK, đề tài về vật liệu chức năng FGM và nanocomposite do GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, Trưởng PTN Vật liệu và Kết cấu tiên tiến – Khoa Cơ kỹ thuật và Tự động hóa – ĐHCN, ĐHQGHN đề xuất hợp tác với School of Mechanical Engineering, University of Birmingham UK (xếp hạng thứ 27 thế giới trong bảng xếp hạng QS -2015) đã được Quỹ Newton Fund chính thức thông qua tài trợ.

Đề án hợp tác sẽ được triển khai từ tháng 3.2016 đến 2.2017, Total project cost: £120,000.00 dành cho các nhà khoa học của 2 bên đi lại, trao đổi nghiên cứu.

Newton Fund của UK thuộc Viện Công nghệ Hoàng gia Anh (The Royal Academy of Engineering), được thành lập để tài trợ cho các nghiên cứu có tầm quốc tế, có giá trị khoa học kỹ thuật cao. Dự án không chỉ mang tính chất hợp tác KHCN giữa hai trường đại học đẳng cấp quốc gia giữa hai nước, mà còn mang tính chất thúc đẩy quan hệ hợp tác về KHKT giữa Việt Nam và UK.  Chính phủ UK rất quan tâm hợp tác với Việt Nam về KHCN và Newton Fund là tổ chức thuộc The Royal Academy of Engineering nhằm mục đích tìm kiếm và  kết nối các nhà khoa học xuất sắc của hai nước với nhau. Đề tài này được thông qua vừa có ý nghĩa về KHCN, vừa có ý nghĩa thúc đẩy các hợp tác KHCN xuất sắc giữa Việt Nam và UK. Bản thân việc apply đề tài và đã được Viện Công nghệ Hoàng gia Anh phê duyệt thông qua là cực kỳ khó và là thành công lớn, vì Hội đồng khoa học Hoàng gia Anh tuyển chọn rất kỹ lưỡng, rất khắt khe, bình đẳng với rất nhiều hồ sơ từ khắp nơi trên thế giới trước khi đưa ra quyết định tài trợ. Dự án cho thấy ĐHCN – ĐHQGHN có thể tham gia thực hiện các dự án hợp tác KHCN đỉnh cao với UK và với các đối tác nước ngoài.

Chính vì vậy, mặc dù kinh phí không quá lớn,  nhưng đó là sự ghi nhận của một cơ quan khoa học hàng đầu thế giới về trình độ và thành tích của Nhóm nghiên cứu và PTN. Tầm và quan hệ quốc tế sẽ sang một đẳng cấp khác. Xin cảm ơn sự ủng hộ và giúp đỡ của các thầy lãnh đạo Khoa và Nhà trường.

Dù mới thành lập, PTN Vật liệu và Kết cấu tiến tiến do GS Nguyễn Đình Đức sáng lập và  dẫn dắt đã có một số kết quả hợp tác quan trọng khác:

– Ngày 1. Nov 2015, Hiệu trưởng ĐHCN PGS.TS Nguyễn Việt Hà và GS.TSKH Nguyễn Đình Đức đã ký Văn bản hợp tác với nhóm của GS Priyan Mandis (chuyên gia hàng đầu thế giới về kết cấu các công trình chịu tải trọng nổ) của University of Melbourne – Australia (xếp hạng thứ 5 thế giới trong bảng xếp hạng QS-2015). Hiện nay 2 bên đã có những kết quả công bố chung và bên đối tác tài trợ cho NNC tham gia một số các hội nghị, hội thảo trong và ngoài nước, và có thể nhận thực tập sinh.

– ĐH Tokyo: Hiện nay GS NĐ Đức -Trưởng PTN đang triển khai chương trình thạc sỹ kỹ thuật hạ tầng, sẽ lựa chọn một số sinh viên ưu tú để xin học bổng cho các em học tiếp bậc thạc sỹ theo chương trình này tại ĐH Việt Nhật, bắt đầu tuyển sinh từ 3.2016.

– Với Hàn Quốc: GS NĐ Đức – Trưởng PTN đã có truyền thống hợp tác với Khoa hàng không vũ trụ của KAIST từ 2006 và đã cử một số sinh viên sang trao đổi và học sau đại học tại KAIST. Nhân dịp hội nghị về dao động quốc tế APVC14-tháng 11.2015 vừa qua được tổ chức tại ĐHBKHN, các GS Nhật Bản và Hàn Quốc đã đến thăm PTN và trao đổi với GS N.Đ.Đức về khả năng hợp tác trong đào tạo và nghiên cứu. Hoạt động và kết quả nghiên cứu của NNC và PTN đã được các giáo sư nước ngoài đánh giá rất cao. Ngay sau hội nghị, công việc hợp tác đã được triển khai tích cực, và đầu tháng 1.2016 tới, PTN sẽ đón tiếp GS Lee, Dean of School of Mechanical Engineering của Hàn Quốc sang chính thức trao đổi và đặt vấn đề hợp tác với PTN lâu dài về đào tạo và NCKH.

Một lần nữa, xin chúc mừng GS Nguyễn Đình Đức, chúc mừng Nhóm nghiên cứu và PTN Vật liệu và Kết cấu tiên tiến.

The games you make can be played https://essayclick.net/ online from anywhere in the world.

CÔNG BỐ 6 CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO THẠC SỸ ĐẦU TIÊN CỦA TRƯỜNG ĐH VIỆT NHẬT

12342502_426383507554534_3292685845601304765_n

Ngày 12-12 tại Hội trường Nguyễn Văn Đạo của ĐHQGHN, đã công bố 6 chương trình thạc sỹ đầu tiên của ĐH Việt Nhật. Tới dự về phía VN có Thứ trưởng Bộ NG, Thứ trưởng Bộ GTVT, Chủ tịch Phòng CN và TM VN, Phó CT Hội HN Việt Nhật, Giám đốc ĐHQGHN và các trường ĐH thành viên, một số doanh nghiệp. Phía Nhật có tham tán Công sứ, Trưởng Đại diện JICA, Chủ tịch Hội HN Nhật Bản – Việt Nam, đại diện các trường đại học Nhật bản đối tác, đại điện các doanh nghiệp Nhật bản tại VN.

Để có được buổi lễ công bố long trọng 6 chương trình đào tạo độc đáo như ngày hôm nay, đó là kết quả của sự nỗ lực và quyết tâm cao của nhóm tập thể các nhà khoa học của ĐHQGHN và của một số trường đại học và cơ quan khoa học khác của Việt Nam (chương trình Kỹ thuật hạ tầng có sự tham gia của các GS, các giảng viên từ ĐH Xây dựng Hà Nội, ĐH Giao Thông, Học Viện Thủy lợi, Viện KHCN Việt Nam,…) và các giáo sư của trường đại học của Nhật Bản, sự ủng hộ và hỗ trợ tài chính tích cực và kịp thời của JICA và của ĐHQGHN, đặc biệt là sự quyết tâm và chỉ đạo sát sao, quan tâm đặc biệt của Giám đốc ĐHQGHN và các đồng chí trong Ban Giám đốc, sự ủng hộ của các bộ ngành, các doanh nghiệp Việt Nam- Nhật Bản; của Chính phủ Việt Nam và Nhật Bản.
6 chương trình đó là: CN nano; Kỹ thuật môi trường; Kỹ thuật hạ tầng; Khu vực học, Quản trị KD và Chính sách công.

Xin giới thiệu với các bạn chương trình đào tạo thạc sỹ Kỹ thuật hạ tầng hợp tác với ĐH Tokyo- ĐH hàng đầu Nhật bản và là một trong những ĐH hàng đầu thế giới. Riêng trong lĩnh vực Civil Engineering của ĐH Tokyo xếp hạng tốp trên cao nhất, đứng hàng thứ 2-3 của thế giới từ 2010 đến nay, và tập trung vào một số lĩnh vực như:

– Kỹ thuật công trình giao thông, cầu, hầm, công trình ngầm;

– Kỹ thuật và công nghệ vật liệu mới trong xây dựng công trình;

– Duy tu, bảo trì các công trình kỹ thuật hạ tầng;

– Quy hoạch vùng và đô thị;

– Quản lý các dự án xây dựng, giao thông, Kỹ thuật hạ tầng.

Trong quá trình học tập, 50% học viên xuất sắc nhất sẽ được JICA tài trợ sang Nhật thực tập 3 tháng trước khi làm luận văn tốt nghiệp.

Trưởng nhóm chịu trách nhiệm xây dựng và triển khai chương trình phía ĐHQGHN: GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, phía ĐH Tokyo GS.TS Kato Hironori.

Ảnh trên: GS Nguyễn Đình Đức, GS Kato Hironori và các giáo sư Việt Nam, các giáo sư ĐH Tokyo tham gia xây dựng chương trình ths Kỹ thuật hạ tầng (ĐHQG Hà Nội, 12.12.2015).

X an ios 6 makeover thanks to a new winterboard theme released on cydia.