GS Nguyễn Đình Đức – Trưởng PTN được mời tham gia Hội đồng biên tập của tạp chí quốc tế ISI uy tín

18.9.2019, GS Nguyễn Đình Đức được mời tham gia Hội đồng biên tập (Editorial Board) của tạp chí ISI có uy tín của thế giới trong lĩnh vực Engineering (hạng Q1, NXB Elsevier, tạp chí danh mục SCIE, IF =3.696):
 
Tạp chí : Alexandria Engineering Journal:
 
https://www.journals.elsevier.com/alexandria-engineering-journal/editorial-board
 
Như vậy, đến nay, là thành viên Ban biên tập của 6 tạp chí quốc tế ISI:
 
• The member of Editorial Advisory Board of Journal Cogent Engineering: (ISI Journal, NXB Taylor & Francis, UK).
 
• The member of Editor Board – Journal of Science: Advanced Materials and Devices (ISI journal, NXB Elsevier).
 
• The member of Editor Board – Journal of Science and Engineering of Composite Materials (SCIE journal, NXB De Gruyter, Germany).
 
• The member of Editor Board of Journal of Mechanical Engineering Science (SCI journal, NXB SAGE, UK)
 
• The member of Editorial Board of Journal “Science Progress” (SCIE Journal, NXB SAGE, UK).
 
• The member of Editorial Board of Alexandria Engineering Journal (SCIE journal, NXB Elsivier).
 
Tự hào vì tên tuổi của GS, các kết quả nghiên cứu của PTN, sau những nỗ lực vượt bậc và sự kiên trì, lao động quên mình, đã được cộng đồng khoa học quốc tế ngày càng biết đến và ghi nhận, tôn vinh. 

windows 10 pro kaufen

THÀNH QUẢ 10 NĂM XÂY DỰNG NHÓM NGHIÊN CỨU (2009-2019)

Nhóm nghiên cứu của GS Nguyễn Đình Đức:

THÀNH QUẢ 10 NĂM XÂY DỰNG NHÓM NGHIÊN CỨU (2009-2019) – MỘT CHẶNG ĐƯỜNG:

Nhóm nghiên cứu là tiền thân của PTN và cũng từ đó thành lập Bộ môn mới, Khoa mới, ngành mới.

Trên 250 bài báo, công trình;

136 BÀI ISI,

trong đó 95 bài chỉ số ảnh hưởng Impact Factor (IF) trên 2.0, 48 bài IF trên 3.0; 37 bài IF trên 4.0 và 13 bài IF trên 5.0;

1 bằng sáng chế,

Thành lập 1 PTN – Bộ môn mới Vật liệu và Kết cấu tiên tiến thuộc Khoa Cơ Kỹ thuật và Tự động hóa (2015);

Thành lập 1 Khoa mới Công nghệ Kỹ thuật Xây dựng giao thông ở ĐH Công nghệ (2018) và Xây dựng PTN tiên tiến chống chịu các điều kiện khắc nghiệt thuộc Khoa;

Thành lập 1 ngành mới thạc sỹ Kỹ thuật hạ tầng (Civil Engineering) ở ĐH Việt Nhật (2016) và đến nay đã đào tạo và tuyển sinh Khóa 4; Xây dựng xong PTN kỹ thuật hạ tầng ở ĐH Việt Nhật;

Mở mới chuyên ngành đào tạo kỹ sư Vật liệu và Kết cấu tiên tiến (bằng Cơ học Kỹ thuật) và đến nay đào tạo được khóa thứ 4 chuyên ngành này with this site;

Mở mới đào tạo ngành kỹ sư Công nghệ Kỹ thuật Xây dựng – Giao thông và năm nay tuyển sinh Khóa 3, được 106 em/98 chỉ tiêu;

Mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới ở ĐHQGHN về vật liệu và kết cấu thông minh; vật liệu nano và composite; tối ưu hóa; thích ứng với biến đổi khí hậu; năng lượng mới; kỹ thuật hạ tầng và công trình xây dựng; CMCN 4.0; ứng dụng composite và vật liệu tiên tiến trong kỹ thuật và an ninh quốc phòng,…

Đào tạo 6 NCS đã nhận bằng TS và đang đào tạo 10 NCS, mỗi năm công bố 15-20 bài trên các tạp chí quốc tế ISI uy tín.

Tổ chức nhiều HN quốc tế lớn ở trong và ngoài nước; và GS Nguyễn Đình Đức, Trưởng NNC – được mời làm invited speaker ở hầu hết tất cả các hội nghị quốc tế lớn ở nước ngoài; mở rộng hợp tác quốc tế với các đại học lớn của UK, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Úc,..

GS Đức cũng là thành viên Ban biên tập của 5 Tạp chí Quốc tế ISI. Ủy viên Hội đồng quốc tế về vật liệu thông minh có cơ lý tính biến đổi FGM.

Đấy là thành quả sau 10 năm kiên trì và gian khổ, vượt qua bao khó khăn thử thách, biết bao mồ hôi và nước mắt để xây dựng Nhóm nghiên cứu từ con số 0 (2009, khi GS Đức còn là Phó Hiệu trưởng ĐH Công nghệ) và được đến cơ ngơi như ngày hôm nay (2019).

Hết lòng vì sự nghiệp giáo dục và đào tạo, bồi dưỡng nhân tài. Nghiên cứu khoa học hội nhập sánh vai cùng bạn bè quốc tế.

Phấn đấu không ngừng, không mệt mỏi mỗi ngày cho ĐHQGHN, cho tương lai của thế hệ trẻ và cho đất nước.

Cống hiến, thiệt thòi, hy sinh.

Kiên trì nhẫn nại vượt qua những thử thách, đố kỵ, ghen ghét, hẹp hòi !

Cao thượng ! Tha thứ và bao dung !

Giản dị, nhịn nhường, làm nên những điều vĩ đại !

Xin cảm ơn sự ủng hộ và giúp đỡ hết lòng của lãnh đạo ĐHQGHN, Ban giám hiệu ĐH Công nghệ, Ban giám hiệu ĐH Việt Nhật, BCN Khoa Cơ học Kỹ thuật và Tự động hóa, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ KHCN, các đối tác trong nước, quốc tế và tất các các thầy cô, đồng nghiệp trong và ngoài nước, các em NCS, HVCH, sinh viên trong Nhóm nghiên cứu.

Xin chúc các thầy cô và các em một năm học mới 2019-2020 thật tốt lành và thật nhiều thành công.

windows 10 education kaufen

THE LABORATORY REACHING INTERNATIONAL STANDARD IN VIETNAM

Professor Nguyen Dinh Duc’s Laboratory:

A LABORATORY REACHING INTERNATIONAL STANDARD  IN VIETNAM

Now, in Vietnam and many countries around the world, a department is a basic-level organization model which deploys to train common graduate and undergraduate levels in a universities. However, in some advanced research universities of some countries, such as Japan, a department model is combined with a laboratory one into a “two-in-one” model. Reality in Vietnam has also proved that, a laboratory model combined with research is a new and preeminent model.

Recently, a laboratory model as above has appeared in Vietnam. At VNU Hanoi – University of Engineering and Technology, a laboratory of Advanced Materials and Structures was established by Professor Dr.Sci. Nguyen Dinh Duc in 2015. The formation and development of this laboratory can become a experience lesson that other universities in Vietnam need to learn.

The way leading to success isn’t often easy. In early stage, the research group only had a teacher and some students. But with his dedication, Professor Dr.Sci. Nguyen Dinh Duc didn’t only have interesting lectures with deep professional knowledge, but he also “lighted” fires of scientific passion and job love of his students, arousing their creative potentials. Professor Dr.Sci. Duc and his students together tried and did research diligently. Finally, their efforts was remunerated. More and more their articles pulished in prestige international journals. This was a great source of encouragement for them, encouraging scientific research passions for other students. Therefore, more students came to him, the group was more and more crowded. By dedicated guidance of Professor Dr.Sci. Duc, many students improved their learning results, from learning ranks were average or good, they were passionate to study and became very good or excellent students after a period to be trained in the group.

Till now, Professor Dr.Sci. Nguyen Dinh Duc’s research group has been strong, it doesn’t not only have a large group including students and fellows, but also has many young doctors to join in. Most of students in the group become good engineers and have research results published in prestigious ISI international journals after graduating from the university. Some his successful students can be listed as Tran Quoc Quan (1991), a PhD student (now he is trainee in UK), who has 15 articles published in prestigious ISI international journals; Pham Hong Cong who has 18 ISI articles; Pham Toan Thang who has 5 ISI articles (now, he is a PhD student in Korea); Vu Thi Thuy Anh (a PhD student who has 7 ISI articles); Hoang Van Tung (had 5 ISI articles when defensing his PhD thesis in 2010), etc. Some other students such as Vu Dinh Quang, Vu Minh Anh, Nguyen Van Quyen, Tran Van Anh, Vu Dinh Luat, Hoang Van Tac, Nguyen Trong Dao, Ngo Tat Dat, Pham Thi Ngoc An, etc., especially Pham Dinh Nguyen – a third-year student, also have research results published with Professor Dr.Sci. Nguyen Dinh Duc in ISI international journals… Most of students in Mr. Duc’s group come from far provinces, their families are poor and some students have especially difficult family conditions.  However, all articles of he and his students are published internationally with internal force 100% made in VN, in a condition which lacks expense, equipment and laboratories.

On the research group foundation, VNU University of Engineering and Technology has established a laboratory of Advanced Materials and Structures.  This is a combination of two models: a department model (training fully levels from engineer, master to doctor) and a laboratory model (deploying scientific researches with modern equipment); concurrently has appointed Professor Dr.Sci. Nguyen Dinh Duc as a director of the laboratory. Now, the laboratory has already built a training program and deployed to train about 20 students who choose technical mechanics industry per year and train master and doctor levels in a field of technical mechanics.  Besides, the laboratory also attracts dozens of graduate students and fellows from all parts of the country come to research and study.

From Professor Dr.Sci. Nguyen Dinh Duc’s model, we can get a lesson: for success of a research group, the first, we need a talented and enthusiastic teacher to lead students.  The second, we need to catch up with advanced and modern researches of the world. The third, we need a training and research environment where has a high academic content such as VNU. The fouth, we need to arouse ambitions and passions for scientific research of young people. Above is the first and the most important factors creating success of a research group.

Professor Dr.Sci. Nguyen Dinh Duc says that, the focus of intensive research and the strength of this research group is fields of: composite, functional and nano materials. Now, the laboratory is also a leading research setting in fields of advanced structures made from functional materials with cracks, nano materials applied to increase energy conversion coefficient in solar panels, piezoelectric materials having changed mechanic and physics properties, auxetic materials (with negative Poisson coefficient and have abilities to decrease shock and absorb explosion wave), new composite materials having special properties applied in extreme conditions and special constructions.  Thence, a school of science about advanced materials and structures at Vietnam National University due to Professor Dr.Sci. Nguyen Dinh Duc leads is formed.

So, from a very primitive research group, from 2010 to now, Professor Dr.Sci. Duc has built a modern laboratory according to new model in Vietnam, training is combined with scientific research. With perseverance, passion and effort, he and his students who work in the laboratory have steadily and confidently reached the international standard. His laboratories have acquired many important results in research and contributed practically to the present life which reflected in articles, patents, and inventions. The members of the laboratory who own one or even two patents have published more than 100 high-value scientific articles in prestigious ISI international journals, several monographs published in Russian and English.  In addition, this is also the place to train many young talents, highly qualified experts in this field. From this success, PhD student Tran Quoc Quan, a member of the Lab, has been the youngest among the 3 talented young scientists (when he was PhD canditate only) so far to receive the most prestigious award of Mechanics named Nguyen Van Dao. Up to now, the Advanced Materials and Structural Laboratory has made its name in the domestic and foreign scientific community. Therefore, it is the pride of VNU University of Engineering and Technology and Vietnam National University. Professor Dr.Sci. Nguyen Dinh Duc – Director of the Laboratory has also been invited to participate in the editorial boards of many domestic and foreign scientific journals and has been reviewer for over 60 prestigious ISI journals in the word.

The laboratory has been having an equal cooperation relationship with reputable labs and scientists in leading universities such as Tokyo Institute of Technology and Tokyo University (Japan), University of Birmingham (United Kingdom), The University of Melbourne (Australia), Korea, Canada, etc. and has attracted many young doctors of major universities in the country (VNU University of Engineering and Technology, VNU University of Science, Vietnam Japan University, Le Quy Don University, University of Transport and Communications, etc.) in terms of research and training cooperation.

The success of this laboratory model has shown the preeminent strength in the training of students and researchers combined with scientific research to create pioneers in science for the country. Such young intellectuals trained in “made in Vietnam 100%” laboratories will be high-quality human resources, and it is the new factor contributing to the cause of industrialization, modernization, and integration.

Professor Dr.Sci. Nguyen Dinh Duc said that, besides the current research directions, the development strategy for the laboratory in the coming years is to focus on 3 modern research fields and have them applied in practical practices: Civil Engineering (related to math materials and structures for transport, construction and infrastructure works); New energy; Climate change (Rain and flood forecasts and solutions for designing and constructing infrastructure works to adapt to climate change).

Model of building and growing with domestic resources with careful planning has gradually developed from research group to the establishment of laboratory organization which is closely linked to training with research, combining research with practice like Advanced Material and Structure Lab at VNU University of Engineering and Technology. As a result, it creates a new model that is suitable for research universities in Vietnam. In recent years, this group research and laboratory which annually publish 10-15 articles in prestigious ISI journals, research results are invited to report at major international conferences, and now they are the same line with the strong international research groups.

With the support of the Government, the Ministry of Science and Technology, the Ministry of Education and Training, the president of VNU Hanoi and the Rector of VNU Hanoi – University of Engineering and Technology, the laboratory will surely develop stronger and be able to meet and interact with more talents.

Professor Dr.Sci. (Dr. Habilitation) Nguyen Dinh Duc is Vietnam’s leading expert in Composite, Advanced materials and Structures. He is the Director of Advanced Materials and Structural Laboratory in VNU Hanoi – University of Engineering and Technology.

Professor Dr.Sci ND Duc has published over 250 scientific papers and reports, including over 135 articles in ISI international journals. The famous professor has been giving lectures at many prestigious universities around the world and is an editorial board member of many prestigious ISI international journals.

 

windows 10 enterprise kaufen

KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG NĂM 2018 NHÓM NGHIÊN CỨU CỦA GS NGUYỄN ĐÌNH ĐỨC

KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NHÓM NGHIÊN CỨU (NNC) CỦA GS NGUYỄN ĐÌNH ĐỨC NĂM 2018:

– Công bố 20 bài báo ISI (SCI, SCIE).

– 1 Đề tài Nhà nước, 2 đề tài NAFOSTED đã được phê duyệt và đang triển khai nhiều hướng nghiên cứu cực mới về vật liệu tiên tiến, kết cấu thông minh, biến đổi khí hậu. Bắt đầu nghiên cứu về vật liệu composite chức năng thông minh (FGM) từ 2005 – 14 năm sau: 8/2018 – GS trưởng NNC đã trở thành thành viên chính thức của Ủy ban quốc tế về FGM gồm các nhà khoa học ưu tú của 12 quốc gia.

– 5 NCS đã tốt nghiệp, bảo vệ thành công xuất sắc luận án istanbul nakliyat TS, hiện đang đào tạo 11 NCS.

– Sinh viên K59H chuyên ngành vật liệu và tiên tiến tốt nghiệp kỹ sư. 1 thành viên NNC bảo vệ xuất sắc luận văn thạc sỹ (với 2 công bố ISI) và nhận học bổng toàn phần của Chính phủ Nhật sang làm NCS tại Nhật Bản.

– Tổ chức thành công 4 Hội thảo khoa học lớn, trong đó có 2 Hội thảo quốc tế lớn là Hội thảo về ứng dụng thuật toán của bầy ong trong tối ưu hóa (3/2018) và Hội thảo quốc tế Tính toán trong khoa học vật liệu ACCMS -TM (9/2018) với hơn 400 đại biểu tham gia, gần 100 nhà khoa học nước ngoài với 39 báo cáo mời của các chuyên gia hàng đầu, các nhà khoa học lớn có tên tuổi trên thế giới đến từ 14 quốc gia; Hội thảo Cách mạng công nghiệp 4.0 – Cơ hội và thách thức với các ngành Kỹ thuật, công nghệ (10/2018), Hội thảo quốc qia về xây dựng và phát triển các NNC trong các trường đại học Việt Nam (1/2019).

– Ký kết hợp tác với ĐH Công nghệ Swinburne (Úc) ; ĐH Kanto Gakuin của Nhật giúp chuyển giao công nghệ và đào tạo giáo viên, đỡ đầu đào tạo ngành kỹ sư xây dựng từ khi tuyển sinh cho đến khi tốt nghiệp, đến khi xong trọn vẹn 2 khóa đầu; Ký kết hợp tác với ĐH Nguyễn Tất Thành.

– Đặc biệt, năm 2018 đã thành lập Khoa mới (BM trực thuộc trường) Công nghệ Kỹ thuật Xây dựng Giao thông (Civil Engineering). Đây là sự kiện có ý nghĩa lịch sử trong sự phát triển của nhà trường và ĐHQGHN. Một sự chuyển mình mạnh mẽ, từ NNC đã phát triển thành 1 tổ chức lớn, không chỉ công bố quốc tế mà còn hướng hoạt động nghiên cứu và đào tạo phục vụ thiết thực nhu cầu phát triên kinh tế xã hội của đất nước.

Một năm thật nhiều sự kiện, nhưng rất vui và thật đáng tự hào vì NNC đã góp phần nhỏ bé cho sự phát triển của Nhà trường, của ĐHQGHN và cho cả sự phát triển của ngành, và sự nghiệp đào tạo và bồi dưỡng nhân tài.

Xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, các giáo sư đối tác từ UK, Úc, Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, …; cảm ơn các bạn TS trẻ, NCS, học viên cao học, sinh viên ưu tú trong và ngoài nước tham gia Nhóm nghiên cứu năm mới dồi dào sức khỏe và ngày càng thật nhiều thành công. Cảm ơn các bạn đã hết lòng hết sức, tin tưởng, đồng cam cộng khổ, đồng hành cùng tôi, kiên trì vượt qua biết bao gian nan thử thách, để xây dựng và duy trì, phát triển Nhóm nghiên cứu; sát cánh với Thầy trong sự nghiệp đào tạo và nghiên cứu trong hoàn cảnh dẫu còn nhiều khó khăn thiếu thốn, nhưng đầy tình thương yêu, tinh nhuệ, và thực sự đã vươn tầm quốc tế.

Xin chân thành cảm ơn sự quan tâm và hết lòng ủng hộ giúp đỡ của lãnh đạo ĐHQGHN, lãnh đạo trường ĐH Công nghệ, Quỹ Nafosted, VP các chương trình KHGD, Bộ KHCN, Bộ Giáo dục và Đào tạo, cùng các phòng, ban, các thầy cô và tất cả mọi người đã luôn dành cho thầy và trò trong NNC sự ủng hộ, động viên và khích lệ quý báu.

Kính chúc Thầy GS.TSKH Nguyễn Đình Đức và các TS trẻ, các cộng tác viên, các em NCS, học viên cao học, sinh viên trong NNC dồi dào sức khỏe, gặt hái thật nhiều thành công trong năm 2019, tiếp tục đóng góp xứng đáng vào sự phát triển của Trường ĐH Công nghệ và Đại học Quốc Gia Hà Nội.

windows 10 home kaufen

GS.TSKH NGUYỄN ĐÌNH ĐỨC VỚI NHỮNG CỐNG HIẾN VÀ ĐÓNG GÓP TRONG VIỆC THÀNH LẬP VÀ PHÁT TRIỂN NHỮNG NGÀNH KHOA HỌC MỚI

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức là một trong những nhà khoa học đầu ngành của Việt Nam trong lĩnh vực vật liệu và kết cấu tiên tiến. Ông cũng là người Thầy tâm huyết và dìu dắt nhiều thế hệ học trò thành tài. Nhưng một trong những đóng góp không nhỏ của ông đó là, thành lập và phát triển những ngành khoa học mới.

Thành lập những ngành, khoa mới

Đại học không chỉ là nơi giảng dạy và truyền thụ kiến thức, mà còn là cái nôi sáng tạo tri thức mới. Chính vì vậy, để nâng cao chất lượng đào tạo cần phải thông qua nghiên cứu khoa học. Ý thức được tầm quan trọng của việc gắn đào tạo với nghiên cứu, , GS Nguyễn Đình Đức đã bắt tay vào việc gây dựng và thành lập Nhóm nghiên cứu (NNC) ngay từ năm 2009, khi đang đảm nhiệm chức vụ Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ của Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN). Mặc dù, mô hình đào tạo gắn với nghiên cứu cũng như vai trò của NNC trong trường đại học đã được nhắc đến từ lâu, nhưng trên thực tế vào thời gian này ở Việt Nam vẫn còn rất ít nhóm hoạt động hiệu quả. Đây chính là động lực cho GS. Nguyễn Đình Đức thành lập nhóm và thử nghiệm thành công.
Ban đầu, nhóm chỉ có Thầy và một vài học trò. Nhưng là người thầy tận tụy và tâm huyết với nghề, ông đã truyền cảm hứng cho học trò qua những bài giảng, “thắp lên” ngọn lửa đam mê khoa học, tình yêu ngành nghề, khơi dậy tiềm năng sáng tạo ở thế hệ trẻ. Một thời gian sau học trò đến với ông ngày một đông hơn. Thầy trò miệt mài cùng nhau, nghiên cứu và những bài báo công bố trên các tạp chí quốc tế có uy tín cũng ngày một nhiều. Năm 2015, trên nền tảng kết quả nghiên cứu thành công của nhóm, đồng thời nhận thấy sự phát triển của kỹ thuật, công nghệ hiện đại không thể thiếu sự tham gia của các vật liệu và kết cấu tiến tiến, GS Đức đã thành lập Phòng thí nghiệm và mở đào tạo chuyên ngành Vật liệu và Kết cấu tiên tiến tại Khoa cơ học Kỹ thuật và Tự động hóa (Trường Đại học Công nghệ, ĐHQGHN). Đồng thời, để tạo điều kiện cho sinh viên có năng lực và đam mê nghiên cứu có điều kiện tiếp tục học cao hơn ở bậc sau đại học, ông đã chủ trì xây dựng đề án mở ngành đào tạo tiến sỹ Cơ học Kỹ thuật ở Trường Đại học Công nghệ vào năm 2013 và ngay sau đó ông đã có lứa sinh viên giỏi đầu tiên được chuyển tiếp làm NCS khi tuổi đời rất trẻ.

Không chỉ thành lập Phòng thí nghiệm, mở ngành mới với triết lý “học đi đôi với hành”, sinh viên, NCS không chỉ tiếp thu tốt kiến thức trên lớp mà còn phải giỏi trong nghiên cứu khoa học, GS Nguyễn Đình Đức còn có hoài bão xây dựng ĐHQGHN không chỉ đi đầu về khoa học cơ bản, mà còn phải vững mạnh về kỹ thuật và công nghệ. Đội ngũ trí thức gồm Thầy và trò phải tham gia giải quyết được những yêu cầu cấp bách của thực tiễn đề ra. Hơn nữa, trong bối cảnh Việt Nam hiện nay đang đô thị hóa, đẩy mạnh xây dựng hệ thống kỹ thuật hạ tầng, xây dựng- giao thông, với sự phát triển thần tốc của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, đã mở ra một cơ hội to lớn đối với việc đào tạo các ngành nghề mới này. Nắm bắt được cơ hội đó, Giáo sư Đức đã xây dựng chương trình đào tạo Ngành kỹ sư Công nghệ kỹ thuật – xây dựng giao thông và bắt đầu tuyển sinh từ 2017. Đến năm 2018, lãnh đạo ĐHQGHN và trường ĐH Công nghệ đã ủng hộ GS Đức thành lập Bộ môn Công nghệ kỹ thuật xây dựng giao thông trực thuộc trường (tương đương cấp Khoa). Theo tính toán khảo sát sơ bộ, trong vòng 5 năm tới Việt Nam cần khoảng 5 triệu kỹ sư, lao động trong lĩnh vực này. Việc đào tạo các em sinh viên, NCS ngành này sẽ đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước.

Bên cạnh đó, với uy tín của nhà khoa học và quan hệ hợp tác với các cơ quan, trường đại học của Nhật Bản – quốc gia đầu tư ODA lớn nhất ở Việt Nam trong lĩnh vực kỹ thuật hạ tầng, GS Nguyễn Đình Đức đã đề xuất, xây dựng chương trình đào tạo thạc sỹ Kỹ thuật hạ tầng ở Đại học Việt Nhật với các hướng chuyên sâu cơ bản như: tính toán kết cấu và thiết kế; công nghệ -kỹ thuật tiên tiến trong xây dựng, thi công; nền móng công trình, vật liệu mới; quy hoạch; quản lý dự án và trở thành Giám đốc chương trình đầu tiên của ngành này. Đối tác chính của chương trình là Đại học Tokyo và 10 trường đại học lớn khác của Nhật Bản. Chương trình Kỹ thuật hạ tầng có sự tham gia giảng dạy trực tiếp của trên 50% là các giáo sư người Nhật. Năm 2015, chương trình đào tạo thạc sỹ kỹ thuật hạ tầng ở ĐH Việt Nhật đã được phê duyệt và bắt đầu tuyển sinh từ năm 2016.

Xây dựng và phát triển

Vượt qua muôn vàn khó khăn về tài liệu, cơ sở vật chất, chỗ làm việc, duy trì tổ chức hoạt động của nhóm, sau 8 năm xây dựng và phát triển, NNC của GS Đức đã lớn mạnh, không chỉ có đông đảo đội ngũ sinh viên, nghiên cứu sinh (NCS) mà còn có nhiều tiến sỹ trẻ tham gia với số lượng hơn 40 thành viên. Thành phần được mở rộng, không chỉ có các đơn vị của ĐHQGHN như ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐH Công nghệ, ĐH Việt Nhật mà còn có sự tham gia của nhiều NCS và tiến sỹ trẻ đến từ các trường đại học, viện nghiên cứu khác trên địa bàn cả nước và cả ở nước ngoài. Uy tín của nhóm nghiên cứu đã vang xa và có sức thu hút trong cộng đồng khoa học quốc tế.

Quan trọng hơn, nhóm đã “gặt hái” được nhiều thành tựu quan trọng trong nghiên cứu và đào tạo, đồng thời góp phần phục vụ thực tiễn. Cụ thể, nhóm đã công bố trên 250 bài báo, báo cáo khoa học, trong đó có 120 bài báo khoa học trên các tạp chí quốc tế ISI (SCI, SCIE) có uy tín, được cấp 1 bằng sáng chế trong sản xuất chế tạo vật liệu nanocomposite ứng dụng chống thấm, xuất bản giáo trình và sách chuyên khảo (bằng tiếng Anh) phục vụ đào tạo đại học, sau đại học. Trong thời gian qua đã có 5 NCS bảo vệ thành công xuất sắc luận án tiến sỹ và hiện đang đào tạo 10 NCS, 2 trong số 4 giải thưởng Nguyễn Văn Đạo của ngành Cơ học thì đó là học trò của GS Đức (TS Hoàng Văn Tùng và TS Trần Quốc Quân).

Ngoài ra, bằng uy tín khoa học của mình, GS. Nguyễn Đình Đức cũng đã thu hút được đội ngũ cán bộ, giáo viên rất giỏi và giàu kinh nghiệm tham gia giảng dạy, hướng dẫn cho học sinh, NCS của những ngành, khoa mới thành lập. Đó là các giáo sư, giảng viên ưu tú đến từ các cơ quan: Viện Hàn lâm KHCN Việt Nam, Học Viện Kỹ thuật Quân sự, ĐH Bách Khoa Hà Nội, ĐH Giao thông, ĐH Xây dựng, ĐH Kiến trúc, ĐH Thủy lợi,…Đồng thời, Viện Cơ học, Viện KHCN Xây dựng, Viện KHCN giao thông. Các doanh nghiệp có uy tín trong lĩnh này như FECON, CONINCO,… cũng giúp đỡ, ủng hộ mạnh mẽ.

Bên cạnh các hướng nghiên cứu cơ bản, các đề tài khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sỹ, đề tài của NCS trong các ngành mới này đã tập trung vào nghiên cứu một số vấn đề cấp bách trong thực tiễn như: nghiên cứu ổn định an toàn kết cấu dưới các loại tải trọng đặc biệt; vật liệu composite tiên tiến ứng dụng trong đóng tàu; gia cường sửa chữa cầu và các kết cấu công trình xây dựng bằng vật liệu composite; nghiên cứu kỹ thuật khoan cọc nhồi gia công nền móng trong thực tiễn ở Việt Nam; nghiên cứu về công trình xanh và tính toán hiện đại trong thiết kế công trình; sử dụng vật liệu nano làm tăng hiệu qủa sử dụng năng lượng mặt trời; đánh giá trữ lượng và tiềm năng của năng lượng điện gió tại khu vực hải đảo ngoài khơi Việt Nam; đánh giá hiệu quả của BRT; tối ưu hóa các điểm đỗ xe công cộng; v.v…Các sinh viên không chỉ tham gia nghiên cứu, mà còn được gửi đi thực tập thực tế tại các doanh nghiệp. Đặc biệt, các em học thạc sỹ ở ĐH Việt Nhật, với sự tài trợ của JICA được đi thực tập 3 tháng tại Nhật Bản. Nhờ có kiến thức thực tế cũng như chuyên môn vững vàng, sau khi tốt nghiệp đại học, các em đều học chuyển tiếp thạc sỹ, làm NCS, hoặc tìm được việc làm ngay ở các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài. Với chất lượng đào tạo tốt, một số em tốt nghiệp đại học ở ĐH Công nghệ và thạc sỹ ở ĐH Việt Nhật đã được nhận vào làm việc tại các doanh nghiệp của Nhật Bản và Hàn Quốc.

Hội nhập và sánh vai

Nhóm nghiên cứu của GS. Nguyễn Đình Đức luôn chú trọng nghiên cứu những lĩnh vực mới trong khoa học như: vật liệu chức năng FGM, Vật liệu nano polymer composite, vật liệu đặc biệt chịu tải trọng nổ,… Đây là những hướng nghiên cứu mới của thế giới. Cụ thể, GS Nguyễn Đình Đức đã bắt tay vào nghiên cứu vật liệu FGM năm 2005 và năm 2008 đã cùng NCS có công bố đầu tiên về ổn định tĩnh và động lực học của kết cấu tấm FGM. Kể từ đó đến nay, đã có nhiều bài báo và luận án thạc sỹ, tiến sỹ đề cập đến về vấn đề này. Vật liệu polymer, một vật liệu có nhiều lỗ rỗng và cơ bản là không dẫn điện. Nhưng ông đã nghiên cứu, bổ sung một cách hợp lý các hạt nano để làm giảm các lỗ rỗng, dưới tác động tích cực của một hiệu điện thế, vật liệu polymer, đặc biệt polymer hữu cơ có thể phát quang. Hiệu ứng này đã mở ra muôn vàn ứng dụng trong thực tế,…Kết quả nghiên cứu khoa học của ông và NNC đã được cộng đồng khoa học quốc tế đánh giá cao, được mời báo cáo tại nhiều hội nghị quốc tế tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn độ…

Thông qua buổi Seminar của các nhà khoa học hàng đầu về các kết cấu đặc biệt chịu tải trọng nổ của ĐH Melbourne (Úc) trong một chuyến công tác tại Việt Nam, sáu tháng sau, GS Đức và các cộng sự trong NNC đã có những bài công bố trên các tạp chí quốc tế về vấn đề này và sau đó đã tiến tới bedava bonus bedava bonus veren bahis siteleri canlı casino canlı bahis canlı bahis oyna canlı bahis sitesi canlı bahis ký kết hợp tác giữa NNC của ông và NNC của ĐH Melbourne.

GS Đức và NNC cũng đã hợp tác hiệu quả với các nhà khoa học hàng đầu của ĐH Birmigham trong lĩnh vực Machine learning (học máy – trên nền tảng trí tuệ nhân tạo) thông qua đề tài hợp tác của Quỹ Newton do Hội Khoa học Công nghệ Hoàng Gia Anh tài trợ năm 2017. Thuật toán tối ưu của bầy ong đã được các giáo sư của ĐH Birmingham đề xuất từ những năm 80 và đã có hàng trăm luận án tiến sỹ, hàng nghìn bài báo đã công bố của các nhà khoa học từ nhiều quốc gia nghiên cứu và phát triển mở rộng lý thuyết này ứng dụng trong thực tế và Machine learning. GS Nguyễn Đình Đức và các học trò của ông trong NNC đã tiếp thu, lĩnh hội và áp dụng cho các tối ưu hóa kết cấu FGM, và lần đầu tiên đã đăng cai tổ chức hội nghị quốc tế về tối ứu hóa của bầy ong tại ĐHQGHN vào tháng 3 năm 2018, thu hút được những nhà khoa học từ các trường đại học hàng đầu của Vương Quốc Anh và Trung Quốc tham gia.

GS Nguyễn Đình Đức cho biết, trọng tâm nghiên cứu chuyên sâu và thế mạnh của PTN là các lĩnh vực: composite, vật liệu chức năng và vật liệu nano, vật liệu thông minh. Bên cạnh đó, NNC và PTN của ông cũng là cơ sở nghiên cứu tiên phong trong lĩnh vực vật liệu nano composite ứng dụng trong công nghiệp đóng tàu, trong lĩnh vực năng lượng mới; các loại vật liệu và kết cấu auxetic có khả năng giúp giảm chấn, hấp thu sóng nổ cũng như có thể giúp lưu trữ lượng thông tin khổng lồ, đáp ứng yêu cầu của trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0; các vật liệu tiên tiến có tính năng đặc biệt sử dụng trong các điều kiện khắc nghiệt ở Việt Nam,…Từ đó đã hình thành nên trường phái khoa học về vật liệu và kết cấu tiên tiến gắn với thông minh, với cách mạng công nghiệp 4.0, với tăng trưởng xanh và phát triển bền vững ở ĐHQGHN do GS. Nguyễn Đình Đức đứng đầu.
GS Nguyễn Đình Đức còn là Trưởng ban tổ chức và giữ vai trò nòng cột của nhiều hội nghị quốc tế có uy tín như: Hội nghị quốc tế về Cơ học Kỹ thuật và Tự động hóa ICEMA 2010, ICEMA 2012, ICEMA 2014, ICEMA 2016; Workshop quốc tế thường niên Vietnam – Canada – Japan về composite; Hội nghị quốc tế về tính toán trong khoa học vật liệu ACCMS TM 2018 (tháng 9 năm 2018) với sự tham gia của hơn 400 nhà khoa học, với hơn 200 báo cáo và 39 báo cáo mời của hàng trăm nhà khoa học hàng đầu từ 14 quốc gia tham dự.

GS Nguyễn Đình Đức cũng là trong số ít các nhà khoa học Việt Nam tham gia hội đồng biên tập của các tạp chí quốc tế có uy tín. Ông là thành viên hội đồng biên tập quốc tế của 4 tạp chí ISI là Cogent Engineering (Nhà xuất bản Taylor & Francis – Vương Quốc Anh), Journal of Science: Advanced Materials and Devices (Nhà xuất bản Elsevier, Hà Lan), Journal of Science and Engineering of Composite Materials (Nhà Xuất bản De Gruyter, Đức), Journal of Mechanical Engineering Science (Proc. IMechE Part C, Nhà xuất Bản SAGE, Viện KHCN Hoàng gia Anh) và được mời làm chuyên gia nhận xét, phản biện cho hơn 60 tạp chí ISI có uy tín của quốc tế. NNC, PTN và Khoa mới thành lập của GS Nguyễn Đình Đức đã và đang có quan hệ hợp tác bình đẳng, ngang tầm với các nhà PTN và các nhà khoa học có uy tín trong các trường đại học hàng đầu của Nhật Bản, Hàn Quốc, Vương quốc Anh, Úc, Canada,….như Đại học Công nghệ Tokyo và Đại học Tổng hợp Tokyo (Nhật Bản), Đại học Tổng hợp Melbourne (Úc), Đại học Birmingham (UK), ĐH Yonsei (Hàn Quốc), Đại học Tổng hợp Matxcova MGU (Liên bang Nga),…Ông cũng là thành viên của Hội đồng quốc tế về tính toán trong khoa học vật liệu ACCMS, thành viên Ủy ban quốc tế về vật liệu chức năng thông minh có cơ lý tính biến đổi FGM.

Các học trò được ông đào tạo và dìu dắt đã tỏa đi bốn phương trời, làm việc trong các môi trường trong nước và quốc tế, được cơ quan, doanh nghiệp trong nước và nước ngoài đánh giá cao về trình độ và kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ. Thậm chí có những em đào tạo trong nước ở NNC của GS Nguyễn Đình Đức còn xuất sắc hơn nhiều sinh viên, học viên cao học và NCS được đào tạo 100% ở nước ngoài.

Như vậy, với vai trò là người kiến tạo, cập nhật những hướng nghiên cứu mới nhất của thế giới trong NNC, vai trò nòng cột tổ chức nhiều hội nghị quốc tế có uy tín thành công, là thành viên của những Hội đồng biên tập tạp chí quốc tế có uy tín, đào tạo được những sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh sau khi ra trường đáp ứng được những tiêu chí khắt khe của các cơ quan và doanh nghiệp trong nước cũng như quốc tế…, đã chứng tỏ Thầy, trò của GS. Nguyễn Đình Đức và NNC đã và đang dần hội nhập và sánh vai với nền khoa học các nước trên thế giới. Kết quả đó cũng khẳng định vị thế ngành giáo dục đại học Việt Nam, của Đại học Quốc gia Hà Nội và vai trò của những người thầy cô giáo.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành công nêu trên, tâm sự với chúng tôi, GS Nguyễn Đình Đức cũng trăn trở và ước ao giá như được đầu tư hơn nữa về cơ sở vật chất và kinh phí cho nghiên cứu, có cơ chế đột phá để thu hút nhân tài, sẽ giữ chân được nhiều hơn các em học sinh giỏi, tài năng ở lại trường tiếp tục theo đuổi con đường nghiên cứu, thay vì hiện nay các em phải bươn chải kiếm sống ở bên ngoài.
Trên cơ sở đó cũng sẽ thu hút được nhiều tiến sỹ trẻ tài năng ở nước ngoài về làm việc, và đội ngũ cán bộ của nhà trường sẽ ngày càng hùng hậu, sẽ có thêm nhiều công bố quốc tế và phát minh sáng chế hơn nữa.

Giáo sư Nguyễn Đình Đức cũng hy vọng những học trò do ông đào tạo sẽ trở thành những hạt nhân lan tỏa đam mê khoa học và sự cống hiến tới các bạn trẻ để góp phần xây dựng đất nước Việt Nam hội nhập và phát triển, vươn lên bứt phá ngoạn mục trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0.

Vân Hương

office 2019 kaufen

Trường Đại học Công nghệ 2017 tuyển sinh ngành mới: Kỹ sư Công nghệ kỹ thuật Xây dựng-Giao thông

(Dân trí ngày 20.2.2017): GS Nguyễn Đình Đức, Trưởng Ban đào tạo – ĐHQGHN cho biết , chương trình kỹ sư Công nghệ kỹ thuật Xây dựng – Giao thông của Trường Đại học công nghệ có tính đặc thù và dựa trên thế mạnh của nhà trường với điểm mới là cung cấp nền tảng kiến thức của cả kỹ thuật và công nghệ ngành kỹ sư giao thông và xây dựng, được cập nhật so với chương trình đào tạo của các trường đại học danh tiếng trên thế giới trong lĩnh vực infrastructure và Civil Engineering là University of Tokyo (Nhật bản) và University of Melbourne (Úc). Theo đó kỹ sư ra trường có thể áp dụng các kiến thức và kỹ năng đã được trang bị để giải quyết các vấn đề liên quan đến: giao thông, xây dựng, quy hoạch và quản lý các dự án, duy tu bảo trì các công trình.

Đồng thời, chương trình phát huy thế mạnh liên ngành của trường ĐHCN là công nghệ thông tin, điện tử và vi cơ điện tử, vật lý kỹ thuật, cơ học kỹ thuật, Vật liệu và Kết cấu tiên tiến trong chương trình đào tạo.

Ngoài ra, chương trình có có sự tận dụng được quan hệ với chương trình thạc sỹ kỹ thuật của trường Đại học Việt Nhật và các doanh nghiệp của Nhật bản tại Việt nam trong lĩnh vực này.

Điểm nổi bật nhất của chương trình là có những học phần cung cấp cho sinh viên những kiến thức hoàn toàn mới về giao thông và xây dựng gắn với phát triển bền vững, quy hoạch vùng và lãnh thổ bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu…

Năm 2017, trường ĐH Công nghệ tuyển 100 chỉ tiêu cho ngành học mới này. Tuyển sinh theo nhóm ngành, cùng với ngành Cơ học Kỹ thuật.

Nhật Hồng

 

Tagung der zu dieser Web-Seite gehen sektion baden-wrttemberg der deutschen gesellschaft fr ernhrung e.

Phỏng vấn GS Nguyễn Đình Đức, Trưởng ban Đào tạo: Những điểm mới trong tuyển sinh đại học chính quy 2017 của ĐHQGHN

GS. TSKH. Nguyễn Đình Đức cung cấp nội dung một số điểm mới được áp dụng trong năm 2017

Năm 2017, ĐHQGHN quyết định không tổ chức kì thi đánh giá năng lực như 2 năm trước, mà sử dụng kết quả các bài thi THPT quốc gia phục vụ công tác xét tuyển bậc đại học. Có những điểm mới nào trong kỳ thi tuyển sinh ĐH chính quy năm 2017 của ĐHQGHN? Cổng thông tin điện tử ĐHQGHN đã có cuộc trao đổi với GS.TSKH Nguyễn Đình Đức – Trưởng ban Đào tạo, ĐHQGHN về những thay đổi trong công tác tuyển sinh đại học năm 2017 của ĐHQGHN.

Năm 2017, ĐHQGHN tuyển sinh 7.345 chỉ tiêu với 99 ngành/CTĐT bậc đại học thuộc lĩnh vực Khoa học Tự nhiên, Khoa học Xã hội, Kinh tế, Quản trị Kinh doanh, Luật học, Y – Dược, trong đó có 5 ngành mới là: Công nghệ kỹ thuật Xây dựng – Giao thông (100 chỉ tiêu), Kỹ thuật máy tính (60 chỉ tiêu), Công nghệ thông tin định hướng thị trường Nhật Bản (50 chỉ tiêu) của Trường ĐH Công nghệ, ngành Sư phạm tiếng Hàn của Trường ĐH Ngoại ngữ và ngành Răng – Hàm – Mặt của Khoa Y Dược (CTĐT CLC theo đặc thù đơn vị) và 3 chương trình đào tạo chất lượng cao có học phí tính đủ chi phí đào tạo (đáp ứng Thông tư 23/2014 của Bộ GD&ĐT) là: Công nghệ kỹ thuật hoá học (40 chỉ tiêu), Công nghệ sinh học (40 chỉ tiêu) của Trường ĐH Khoa học tự nhiên và Tài chính Ngân hàng (60 chỉ tiêu) của Trường ĐH Kinh tế.

Năm 2017, ĐHQGHN xét tuyển theo 3 hình thức:

1. Thí sinh có kết quả kỳ thi THPT quốc gia năm 2017 đạt ngưỡng đảm bảo chất lượng đầu vào do ĐHQGHN quy định. Đồng thời, ĐHQGHN sử dụng 56 tổ hợp để xét tuyển vào đại học chính quy, trong đó: 10 tổ hợp môn theo khối thi truyền thống và 46 tổ hợp môn theo khối thi mới. Đối với các khối thi mới, các đơn vị đào tạothuộc ĐHQGHN đặc biệt chú trọng sử dụng bài thi ngoại ngữ để tổ hợp xét tuyển nhằm đảm bảo năng lực ngoại ngữ cần thiết giúp thí sinh theo học tốt các chương trình đào tạo đáp ứng chuẩn đầu ra tương ứng quốc tế.

2. Thí sinh có kết quả thi ĐGNL còn hạn sử dụng đạt từ 70,00/140,00 điểm trở lên và chưa nhập học vào bất kỳ đơn vị đào tạo nào của ĐHQGHN

3. Thí sinh có chứng chỉ quốc tế của Trung tâm Khảo thí ĐH Cambridge, Anh (Cambridge International Examinations A-Level, UK). Thí sinh sử dụng chứng chỉ A-Level với tổ hợp kết quả 3 môn thi theo các khối thi quy định của ngành đào tạo tương ứng. Mức điểm mỗi môn thi đạt từ 60/100 điểm trở lên (tương ứng điểm C, PUM range ≥ 60) mới đủ điều kiện đăng ký để xét tuyển.

Chính sách ưu tiên trong tuyển sinh

1. Chính sách ưu tiên theo đối tượng, theo khu vực, các đối tượng được xét tuyển thẳng và ưu tiên xét tuyển thực hiện theo Quy chế tuyển sinh của Bộ GD&ĐT.

2. Học sinh THPT chuyên thuộc ĐHQGHN được xét tuyển thẳng và xét tuyển vào bậc đại học tại ĐHQGHN phải tốt nghiệp THPT, có hạnh kiểm 3 năm học THPT đạt loại Tốt và đáp ứng một trong các tiêu chí sau:

– Là thành viên chính thức đội tuyển dự kỳ thi Olympic hoặc các cuộc thi sáng tạo, triển lãm khoa học kỹ thuật khu vực, quốc tế;

– Đạt giải chính thức trong kỳ thi chọn học sinh giỏi bậc THPT cấp ĐHQGHN;

– Đạt giải chính thức trong kỳ thi Olympic chuyên Khoa học tự nhiên bậc THPT được tổ chức hàng năm;

– Là thành viên chính thức của đội tuyển tham dự kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia hoặc các cuộc thi sáng tạo khoa học kỹ thuật quốc gia;

– Đạt danh hiệu học sinh giỏi từng năm học trong cả 3 năm THPT chuyên và có tổng điểm 4 môn thi tốt nghiệp THPT đạt tối thiểu 32,0 điểm trong đó không có điểm môn thi tốt nghiệp THPT dưới 6,0 điểm;

Học sinh đạt một trong các tiêu chí trên trong các năm học ở bậc THPT được bảo lưu kết quả khi xét tuyển thẳng và xét tuyển vào bậc đại học tại ĐHQGHN.

3. Học sinh một số trường THPT chuyên không thuộc ĐHQGHN được đăng ký xét tuyển thẳng và xét tuyển vào bậc đại học ở các đơn vị đào tạo của ĐHQGHN nếu đáp ứng các yêu cầu như đối với học sinh THPT chuyên thuộc ĐHQGHN và phải đáp ứng các tiêu chí sau:

– Học sinh thuộc trường THPT chuyên có trong danh sách các trường THPT chuyên được ĐHQGHN dành chỉ tiêu tuyển thẳng.

– Học sinh có tên trong danh sách xếp theo thứ tự ưu tiên kèm theo hồ sơ và công văn của Hiệu trưởng trường THPT chuyên đề nghị các đơn vị đào tạo trong ĐHQGHN xét tuyển thẳng.

4. HĐTS các đơn vị xây dựng quy định cụ thể về xét tuyển thẳng, ưu tiên xét tuyển theo Quy chế tuyển sinh, bao gồm: ngành thí sinh được xét tuyển thẳng, ưu tiên xét tuyển tương ứng với loại giải và môn thi của thí sinh đoạt giải hoặc môn chuyên của thí sinh (các đơn vị có thể bổ sung thêm các ngành đúng và ngành gần đối với từng môn thi học sinh giỏi quốc gia hoặc môn chuyên phù hợp với yêu cầu đầu vào của các ngành đào tạo), chỉ tiêu cho từng ngành, quy trình xét và công bố công khai trên trang thông tin của đơn vị, của ĐHQGHN và các phương tiện thông tin đại chúng trước ngày 28/4/2017.

Theo tin VNU, Hanoi.

Google text to speech read the text on your buy essay online by https://justbuyessay.com/ screen aloud.

Phim phóng sự trên truyền hình thông tấn VTC: PTN made in Vietnam của GS Nguyễn Đình Đức vươn tầm quốc tế

Phim phóng sự trên truyền hình thông tấn VTC: PTN made in Vietnam của GS Nguyễn Đình Đức vươn tầm quốc tế

PTN made in Vietnam của GS Nguyễn Đình Đức vươn tầm quốc tế

Nguồn:  vnews.gov.vn

Chrome https://order-essay-online.net remote desktop securely access your computers from your android device.

PTN của GS Nguyễn Đình Đức, Trường Đại học Công nghệ – ĐHQGHN: Vươn tầm quốc tế

Đầu xuân, trân trọng giới thiệu bài viết về PTN Vật liệu và Kết cấu Tiên tiến của Trường Đại học Công nghệ, ĐHQGHN đăng trên Dân trí ngày 3 Tết Đinh Dậu – 30.1.2017 . Bài báo  phản ánh chân thực quá trình xây dựng và trưởng thành của nhóm nghiên cứu (NNC) và PTN. Thầy và trò đã có những năm tháng khởi đầu vất vả với biết bao khó khăn mới gây dựng được PTN như ngày hôm nay: 

Hiện nay, tại các trường đại học ở Việt Nam và nhiều nước trên thế giới, bộ môn là mô hình tổ chức cấp cơ sở triển khai đào tạo giáo dục bậc đại học, sau đại học phổ biến.

Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng tồn tại mô hình bộ môn và phòng thí nghiệm được hòa nhập “hai trong một” của các trường đại học nghiên cứu tiên tiến ở một số nước, tiêu biểu là Nhật Bản. Thực tế ở Việt Nam cũng đã chứng minh, mô hình Phòng thí nghiệm (PTN) kết hợp đào tạo với nghiên cứu là mô hình mới, ưu việt.

Nhiều học trò thành danh từ Phòng thí nghiệm và Nhóm nghiên cứu của GS. Nguyễn Đình Đức

Vừa qua, mô hình PTN nêu trên đã xuất hiện ở Việt Nam. Tại trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN), PTN Vật liệu và Kết cấu tiên tiến đã được GS.TSKH Nguyễn Đình Đức sáng lập. Sự hình thành và phát triển của PTN này có thể là bài học kinh nghiệm để nhân rộng ở các trường đại học khác của Việt Nam.

Con đường đến với thành công thường không dễ dàng. Ban đầu, nhóm nghiên cứu chỉ có Thầy và một vài học trò. Nhưng là người thầy tận tụy và tâm huyết với nghề, GS Nguyễn Đình Đức không chỉ có những bài giảng hay với chuyên môn sâu mà quan trọng hơn, ông đã “thắp lên” ngọn lửa đam mê khoa học, tình yêu ngành nghề ở các học trò của mình, khơi dậy tiềm năng sáng tạo ở các bạn trẻ.

Thầy trò cùng nhau cố gắng nỗ lực, miệt mài nghiên cứu. Cuối cùng, kết quả cũng đã được đền đáp. Những bài báo được công bố trên các tạp chí quốc tế có uy tín ngày một nhiều. Đây là nguồn cổ vũ động viên lớn lao đối với Thầy và trò, khích lệ và khơi gợi niềm đam mê nghiên cứu khoa học cho những sinh viên khác.

Trên cơ sở đó, học trò đến với ông nhiều hơn, nhóm nghiên cứu ngày một đông dần lên. Được Thầy tận tình dìu dắt, nhiều em sinh viên trước đây học lực chỉ đạt mức trung bình hoặc khá, nhưng được rèn luyện trong nhóm nghiên cứu, đã trở nên say mê học tập nghiên cứu và sau khi tốt nghiệp đại học đều trở thành sinh viên giỏi và xuất sắc.

Đến nay, nhóm nghiên cứu của GS Nguyễn Đình Đức đã lớn mạnh, không chỉ có đông đảo đội ngũ sinh viên, nghiên cứu sinh (NCS) mà còn có nhiều tiến sỹ trẻ tham gia. Hầu hết các sinh viên trong nhóm nghiên cứu khi tốt nghiệp đại học, trở thành các kỹ sư giỏi, đều có kết quả nghiên cứu được công bố trên các tạp chí quốc tế ISI có uy tín.

Một số học trò thành đạt của ông có thể kể đến như NCS Trần Quốc Quân (SN 1991), chuyển tiếp nghiên cứu sinh (nay đang thực tập tại Vương quốc Anh) có 15 bài báo trên các tạp chí quốc tế ISI; Phạm Hồng Công (SN 1992), có 18 bài báo ISI; Phạm Toàn Thắng (SN 1991), khi tốt nghiệp đại học ra trường đã có 5 bài báo ISI (hiện nay đang làm NCS tại Hàn Quốc);

Vũ Thị Thùy Anh (đang làm NCS, đã có 7 bài ISI); Hoàng Văn Tùng (khi bảo vệ luận án tiến sỹ từ năm 2010 đã có 5 bài ISI)… Một số sinh viên khác cũng có kết quả công bố chung với thầy trên các tạp chí quốc tế ISI như: Vũ Đình Quang, Vũ Minh Anh, Nguyễn Văn Quyền, Trần Văn Anh, Vũ Đình Luật, Hoàng Văn Tác, Nguyễn Trọng Đạo, Ngô Tất Đạt, Phạm Thị Ngọc Ân,…; đặc biệt, có em tuổi đời còn rất trẻ, mới học hết năm thứ 3 như Phạm Đình Nguyện….Phần lớn các học trò trong nhóm nghiên cứu của GS Đức đều là các em ở các tỉnh xa, nhà nghèo; trong số đó, có những em hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn. Điều đáng trân trọng và khâm phục là thầy và trò đều công bố quốc tế với nội lực 100% made in Việt Nam, trong điều kiện lúc đầu thiếu thốn về kinh phí, CSVC, PTN.

Trên cơ sở nhóm nghiên cứu, năm 2015, Trường Đại học Công nghệ đã thành lập Phòng thí nghiệm Vật liệu và Kết cấu tiên tiến. Đây là sự kết hợp của hai mô hình: tổ bộ môn (đào tạo đầy đủ các bậc từ kỹ sư, thạc sỹ đến tiến sỹ) và mô hình PTN (triển khai các nghiên cứu khoa học với các thiết bị hiện đại); đồng thời bổ nhiệm GS .TSKH Nguyễn Đình Đức làm Giám đốc PTN.

Hiện nay, PTN đã xây dựng xong chương trình đào tạo và đang tiến hành triển khai đào tạo hệ kỹ sư theo chuyên ngành này trong ngành Cơ học Kỹ thuật với quy mô khoảng 20 sinh viên/năm, đồng thời, đào tạo bậc thạc sỹ và tiến sỹ trong lĩnh vực Cơ học Kỹ thuật. Bên cạnh đó, PTN cũng thu hút hàng chục học viên cao học và nghiên cứu sinh từ khắp mọi miền của của đất nước đến sinh hoạt chuyên môn, nghiên cứu và học tập.

Từ mô hình nhóm nghiên cứu của GS Nguyễn Đình Đức có thể rút ra bài học: để một nhóm nghiên cứu thành công, trước tiên là phải có những người thầy tài năng và tâm huyết dẫn dắt, hai là phải bắt nhịp được theo các nghiên cứu tiên tiến, hiện đại của thế giới. Ba là phải có môi trường đào tạo và nghiên cứu có hàm lượng học thuật cao như ĐHQGHN và bốn là cần khơi dậy được hoài bão và sự say mê nghiên cứu khoa học của các bạn trẻ. Đây là 4 yếu tố trước tiên và quan trọng nhất làm nên thành công của nhóm nghiên cứu.

Nhóm nghiên cứu và Phòng thí nghiệm của GS Nguyễn Đình Đức – Nơi đào tạo những tài năng trẻ

GS Nguyễn Đình Đức cho biết, trọng tâm nghiên cứu chuyên sâu và thế mạnh của nhóm nghiên cứu này là các lĩnh vực: composite, vật liệu chức năng và vật liệu nano.

Hiện nay, PTN cũng là cơ sở nghiên cứu tiên phong trong lĩnh vực kết cấu tiên tiến chế tạo từ các vật liệu chức năng có vết nứt, vật liệu nano ứng dụng làm tăng hệ số chuyển đổi năng lượng trong các tấm pin mặt trời, vật liệu áp điện có cơ lý tính biến đổi, vật liệu auxetic (có hệ số Poisson âm và có khả năng giảm chấn, hấp thu sóng nổ), các vật liệu mới composite có tính chất đặc biệt sử dụng trong các điều kiện khắc nghiệt và các công trình đặc biệt. Từ đó đã hình thành nên trường phái khoa học về vật liệu và kết cấu tiên tiến ở ĐHQGHN do GS. Nguyễn Đình Đức đứng đầu.

Như vậy, từ một nhóm nghiên cứu rất sơ khai ban đầu, chỉ trong thời gian từ 2010 đến nay, GS Đức đã xây dựng nên một PTN hiện đại theo mô hình mới ở Việt Nam, vừa đào tạo kết hợp với nghiên cứu khoa học. Bằng sự kiên trì bền bỉ, niềm say mê nghiên cứu khoa học và sự phấn đấu nỗ lực, quên mình, Thầy và trò trong PTN đã vững vàng, tự tin vươn lên tầm quốc tế từ nội lực.

PTN của GS Đức đã thu được nhiều kết quả quan trọng trong nghiên cứu và góp phần phục vụ thiết thực cho cuộc sống hiện tại, thể hiện qua những bài báo, bằng phát minh, sáng chế. Các thành viên của PTN đã công bố hơn 100 bài báo khoa học có giá trị cao trên các tạp chí quốc tế ISI (SCI, SCIE) có uy tín, một số sách chuyên khảo xuất bản bằng tiếng Nga, tiếng Anh, sở hữu 1 bằng phát minh, 2 bằng sáng chế.

Ngoài ra, đây cũng là nơi đào tạo ra nhiều tài năng trẻ, những chuyên gia có trình độ cao thuộc lĩnh vực này. Từ thành công trên, nghiên cứu sinh Trần Quốc Quân của PTN đã vinh dự là một trong 3 nhà khoa học trẻ tài năng (và là người trẻ nhất, khi còn chưa có bằng tiến sỹ) từ trước đến nay được nhận giải thưởng danh giá nhất của ngành Cơ học mang tên Nguyễn Văn Đạo.

Đến nay, PTN Vật liệu và Kết cấu tiên tiến đã được cộng đồng khoa học trong và ngoài nước biết đến và là niềm tự hào của Trường Đại học Công nghệ và Đại học Quốc gia Hà Nội. GS Nguyễn Đình Đức – Trưởng PTN cũng đã được mời tham gia vào hội đồng biên tập của nhiều tạp chí khoa học ở trong và ngoài nước, và được mời làm chuyên gia nhận xét, phản biện cho 40 tạp chí ISI có uy tín của quốc tế.

Phòng thí nghiệm đã và đang có quan hệ hợp tác bình đẳng, ngang tầm với các nhà PTN và các nhà khoa học có uy tín trong các trường đại học hàng đầu của Nhật Bản, Hàn Quốc, Vương quốc Anh, Úc, Canada,….như Đại học Công nghệ Tokyo và Đại học Tổng hợp Tokyo (Nhật Bản), Đại học Tổng hợp Melbourne(Úc), Đại học Birmingham (UK),…và đã thu hút được nhiều tiến sỹ trẻ của các trường đại học lớn ở trong nước như Đại học Công nghệ, Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Việt Nhật, Học Viện Kỹ thuật Quân sự, Đại học Giao thông vận tải,….cùng tham gia hợp tác nghiên cứu và đào tạo.

Sự thành công của mô hình PTN này đã cho thấy sức mạnh ưu việt trong công tác đào tạo sinh viên, NCS kết hợp với nghiên cứu khoa học để tạo ra nhiều nhân tài trẻ tuổi cho đất nước. Những trí thức trẻ được đào tạo và trưởng thành trong các PTN made in Việt Nam 100% như vậy sẽ là nguồn nhân lực chất lượng cao, và chính là những nhân tố mới đóng góp vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Mỗi năm công bố 10-15 bài báo trên các tạp chí ISI có uy tín

GS Nguyễn Đình Đức cho biết, bên cạnh các hướng nghiên cứu hiện nay, chiến lược phát triển của PTN trong những năm tới đây là đi vào 3 lĩnh vực nghiên cứu hiện đại và gắn với phục vụ thực tiễn là: Civil Engineering (liên quan đến tính toán vật liệu và kết cấu cho các công trình giao thông, xây dựng và kỹ thuật hạ tầng); năng lượng mới; biến đổi khí hậu (tính toán dự báo mưa, lũ và các giải pháp thiết kế, thi công các công trình hạ tầng thích ứng với biến đổi khí hậu).

Mô hình xây dựng và trưởng thành bằng nội lực trong nước, từng bước chắc chắn, phát triển dần từ nhóm nghiên cứu đến thành lập tổ chức PTN, gắn kết chặt chẽ đào tạo với nghiên cứu, gắn nghiên cứu với thực tiễn như PTN Vật liệu và Kết cấu tiên tiến ở Trường Đại học Công nghệ – ĐHQGHN là mô hình mới, rất hay, hiện đại, hiệu quả, rất phù hợp với các trường đại học nghiên cứu ở Việt Nam.

Những năm gần đây, PTN và nhóm nghiên cứu này mỗi năm công bố 10-15 bài báo trên các tạp chí ISI có uy tín, kết quả nghiên cứu được mời báo cáo tại các hội nghị quốc tế lớn, có thể thấy với kết quả và uy tín như vậy không thua kém các nhóm nghiên cứu mạnh của quốc tế.

Với sự ủng hộ và quan tâm của Đảng và Nhà nước, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, lãnh đạo ĐHQGHN và trường Đại học Công nghệ, những năm tới PTN chắc chắn sẽ phát triển mạnh mẽ hơn nữa, đào tạo được nhiều nhân tài hơn nữa cho đất nước.

Nhật Hồng

Bauernhfe als auerschulischer lernort im fokus kassel kassel university press / barleben docupoint frderung https://www.hausarbeithilfe.com/keine-angst-vor-der-bachelorarbeit/ experimenteller problemlsefhigkeit.