GS.TSKH NGUYỄN ĐÌNH ĐỨC VỚI NHỮNG CỐNG HIẾN VÀ ĐÓNG GÓP TRONG VIỆC THÀNH LẬP VÀ PHÁT TRIỂN NHỮNG NGÀNH KHOA HỌC MỚI

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức là một trong những nhà khoa học đầu ngành của Việt Nam trong lĩnh vực vật liệu và kết cấu tiên tiến. Ông cũng là người Thầy tâm huyết và dìu dắt nhiều thế hệ học trò thành tài. Nhưng một trong những đóng góp không nhỏ của ông đó là, thành lập và phát triển những ngành khoa học mới.

Thành lập những ngành, khoa mới

Đại học không chỉ là nơi giảng dạy và truyền thụ kiến thức, mà còn là cái nôi sáng tạo tri thức mới. Chính vì vậy, để nâng cao chất lượng đào tạo cần phải thông qua nghiên cứu khoa học. Ý thức được tầm quan trọng của việc gắn đào tạo với nghiên cứu, , GS Nguyễn Đình Đức đã bắt tay vào việc gây dựng và thành lập Nhóm nghiên cứu (NNC) ngay từ năm 2009, khi đang đảm nhiệm chức vụ Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ của Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN). Mặc dù, mô hình đào tạo gắn với nghiên cứu cũng như vai trò của NNC trong trường đại học đã được nhắc đến từ lâu, nhưng trên thực tế vào thời gian này ở Việt Nam vẫn còn rất ít nhóm hoạt động hiệu quả. Đây chính là động lực cho GS. Nguyễn Đình Đức thành lập nhóm và thử nghiệm thành công.
Ban đầu, nhóm chỉ có Thầy và một vài học trò. Nhưng là người thầy tận tụy và tâm huyết với nghề, ông đã truyền cảm hứng cho học trò qua những bài giảng, “thắp lên” ngọn lửa đam mê khoa học, tình yêu ngành nghề, khơi dậy tiềm năng sáng tạo ở thế hệ trẻ. Một thời gian sau học trò đến với ông ngày một đông hơn. Thầy trò miệt mài cùng nhau, nghiên cứu và những bài báo công bố trên các tạp chí quốc tế có uy tín cũng ngày một nhiều. Năm 2015, trên nền tảng kết quả nghiên cứu thành công của nhóm, đồng thời nhận thấy sự phát triển của kỹ thuật, công nghệ hiện đại không thể thiếu sự tham gia của các vật liệu và kết cấu tiến tiến, GS Đức đã thành lập Phòng thí nghiệm và mở đào tạo chuyên ngành Vật liệu và Kết cấu tiên tiến tại Khoa cơ học Kỹ thuật và Tự động hóa (Trường Đại học Công nghệ, ĐHQGHN). Đồng thời, để tạo điều kiện cho sinh viên có năng lực và đam mê nghiên cứu có điều kiện tiếp tục học cao hơn ở bậc sau đại học, ông đã chủ trì xây dựng đề án mở ngành đào tạo tiến sỹ Cơ học Kỹ thuật ở Trường Đại học Công nghệ vào năm 2013 và ngay sau đó ông đã có lứa sinh viên giỏi đầu tiên được chuyển tiếp làm NCS khi tuổi đời rất trẻ.

Không chỉ thành lập Phòng thí nghiệm, mở ngành mới với triết lý “học đi đôi với hành”, sinh viên, NCS không chỉ tiếp thu tốt kiến thức trên lớp mà còn phải giỏi trong nghiên cứu khoa học, GS Nguyễn Đình Đức còn có hoài bão xây dựng ĐHQGHN không chỉ đi đầu về khoa học cơ bản, mà còn phải vững mạnh về kỹ thuật và công nghệ. Đội ngũ trí thức gồm Thầy và trò phải tham gia giải quyết được những yêu cầu cấp bách của thực tiễn đề ra. Hơn nữa, trong bối cảnh Việt Nam hiện nay đang đô thị hóa, đẩy mạnh xây dựng hệ thống kỹ thuật hạ tầng, xây dựng- giao thông, với sự phát triển thần tốc của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, đã mở ra một cơ hội to lớn đối với việc đào tạo các ngành nghề mới này. Nắm bắt được cơ hội đó, Giáo sư Đức đã xây dựng chương trình đào tạo Ngành kỹ sư Công nghệ kỹ thuật – xây dựng giao thông và bắt đầu tuyển sinh từ 2017. Đến năm 2018, lãnh đạo ĐHQGHN và trường ĐH Công nghệ đã ủng hộ GS Đức thành lập Bộ môn Công nghệ kỹ thuật xây dựng giao thông trực thuộc trường (tương đương cấp Khoa). Theo tính toán khảo sát sơ bộ, trong vòng 5 năm tới Việt Nam cần khoảng 5 triệu kỹ sư, lao động trong lĩnh vực này. Việc đào tạo các em sinh viên, NCS ngành này sẽ đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước.

Bên cạnh đó, với uy tín của nhà khoa học và quan hệ hợp tác với các cơ quan, trường đại học của Nhật Bản – quốc gia đầu tư ODA lớn nhất ở Việt Nam trong lĩnh vực kỹ thuật hạ tầng, GS Nguyễn Đình Đức đã đề xuất, xây dựng chương trình đào tạo thạc sỹ Kỹ thuật hạ tầng ở Đại học Việt Nhật với các hướng chuyên sâu cơ bản như: tính toán kết cấu và thiết kế; công nghệ -kỹ thuật tiên tiến trong xây dựng, thi công; nền móng công trình, vật liệu mới; quy hoạch; quản lý dự án và trở thành Giám đốc chương trình đầu tiên của ngành này. Đối tác chính của chương trình là Đại học Tokyo và 10 trường đại học lớn khác của Nhật Bản. Chương trình Kỹ thuật hạ tầng có sự tham gia giảng dạy trực tiếp của trên 50% là các giáo sư người Nhật. Năm 2015, chương trình đào tạo thạc sỹ kỹ thuật hạ tầng ở ĐH Việt Nhật đã được phê duyệt và bắt đầu tuyển sinh từ năm 2016.

Xây dựng và phát triển

Vượt qua muôn vàn khó khăn về tài liệu, cơ sở vật chất, chỗ làm việc, duy trì tổ chức hoạt động của nhóm, sau 8 năm xây dựng và phát triển, NNC của GS Đức đã lớn mạnh, không chỉ có đông đảo đội ngũ sinh viên, nghiên cứu sinh (NCS) mà còn có nhiều tiến sỹ trẻ tham gia với số lượng hơn 40 thành viên. Thành phần được mở rộng, không chỉ có các đơn vị của ĐHQGHN như ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐH Công nghệ, ĐH Việt Nhật mà còn có sự tham gia của nhiều NCS và tiến sỹ trẻ đến từ các trường đại học, viện nghiên cứu khác trên địa bàn cả nước và cả ở nước ngoài. Uy tín của nhóm nghiên cứu đã vang xa và có sức thu hút trong cộng đồng khoa học quốc tế.

Quan trọng hơn, nhóm đã “gặt hái” được nhiều thành tựu quan trọng trong nghiên cứu và đào tạo, đồng thời góp phần phục vụ thực tiễn. Cụ thể, nhóm đã công bố trên 250 bài báo, báo cáo khoa học, trong đó có 120 bài báo khoa học trên các tạp chí quốc tế ISI (SCI, SCIE) có uy tín, được cấp 1 bằng sáng chế trong sản xuất chế tạo vật liệu nanocomposite ứng dụng chống thấm, xuất bản giáo trình và sách chuyên khảo (bằng tiếng Anh) phục vụ đào tạo đại học, sau đại học. Trong thời gian qua đã có 5 NCS bảo vệ thành công xuất sắc luận án tiến sỹ và hiện đang đào tạo 10 NCS, 2 trong số 4 giải thưởng Nguyễn Văn Đạo của ngành Cơ học thì đó là học trò của GS Đức (TS Hoàng Văn Tùng và TS Trần Quốc Quân).

Ngoài ra, bằng uy tín khoa học của mình, GS. Nguyễn Đình Đức cũng đã thu hút được đội ngũ cán bộ, giáo viên rất giỏi và giàu kinh nghiệm tham gia giảng dạy, hướng dẫn cho học sinh, NCS của những ngành, khoa mới thành lập. Đó là các giáo sư, giảng viên ưu tú đến từ các cơ quan: Viện Hàn lâm KHCN Việt Nam, Học Viện Kỹ thuật Quân sự, ĐH Bách Khoa Hà Nội, ĐH Giao thông, ĐH Xây dựng, ĐH Kiến trúc, ĐH Thủy lợi,…Đồng thời, Viện Cơ học, Viện KHCN Xây dựng, Viện KHCN giao thông. Các doanh nghiệp có uy tín trong lĩnh này như FECON, CONINCO,… cũng giúp đỡ, ủng hộ mạnh mẽ.

Bên cạnh các hướng nghiên cứu cơ bản, các đề tài khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sỹ, đề tài của NCS trong các ngành mới này đã tập trung vào nghiên cứu một số vấn đề cấp bách trong thực tiễn như: nghiên cứu ổn định an toàn kết cấu dưới các loại tải trọng đặc biệt; vật liệu composite tiên tiến ứng dụng trong đóng tàu; gia cường sửa chữa cầu và các kết cấu công trình xây dựng bằng vật liệu composite; nghiên cứu kỹ thuật khoan cọc nhồi gia công nền móng trong thực tiễn ở Việt Nam; nghiên cứu về công trình xanh và tính toán hiện đại trong thiết kế công trình; sử dụng vật liệu nano làm tăng hiệu qủa sử dụng năng lượng mặt trời; đánh giá trữ lượng và tiềm năng của năng lượng điện gió tại khu vực hải đảo ngoài khơi Việt Nam; đánh giá hiệu quả của BRT; tối ưu hóa các điểm đỗ xe công cộng; v.v…Các sinh viên không chỉ tham gia nghiên cứu, mà còn được gửi đi thực tập thực tế tại các doanh nghiệp. Đặc biệt, các em học thạc sỹ ở ĐH Việt Nhật, với sự tài trợ của JICA được đi thực tập 3 tháng tại Nhật Bản. Nhờ có kiến thức thực tế cũng như chuyên môn vững vàng, sau khi tốt nghiệp đại học, các em đều học chuyển tiếp thạc sỹ, làm NCS, hoặc tìm được việc làm ngay ở các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài. Với chất lượng đào tạo tốt, một số em tốt nghiệp đại học ở ĐH Công nghệ và thạc sỹ ở ĐH Việt Nhật đã được nhận vào làm việc tại các doanh nghiệp của Nhật Bản và Hàn Quốc.

Hội nhập và sánh vai

Nhóm nghiên cứu của GS. Nguyễn Đình Đức luôn chú trọng nghiên cứu những lĩnh vực mới trong khoa học như: vật liệu chức năng FGM, Vật liệu nano polymer composite, vật liệu đặc biệt chịu tải trọng nổ,… Đây là những hướng nghiên cứu mới của thế giới. Cụ thể, GS Nguyễn Đình Đức đã bắt tay vào nghiên cứu vật liệu FGM năm 2005 và năm 2008 đã cùng NCS có công bố đầu tiên về ổn định tĩnh và động lực học của kết cấu tấm FGM. Kể từ đó đến nay, đã có nhiều bài báo và luận án thạc sỹ, tiến sỹ đề cập đến về vấn đề này. Vật liệu polymer, một vật liệu có nhiều lỗ rỗng và cơ bản là không dẫn điện. Nhưng ông đã nghiên cứu, bổ sung một cách hợp lý các hạt nano để làm giảm các lỗ rỗng, dưới tác động tích cực của một hiệu điện thế, vật liệu polymer, đặc biệt polymer hữu cơ có thể phát quang. Hiệu ứng này đã mở ra muôn vàn ứng dụng trong thực tế,…Kết quả nghiên cứu khoa học của ông và NNC đã được cộng đồng khoa học quốc tế đánh giá cao, được mời báo cáo tại nhiều hội nghị quốc tế tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn độ…

Thông qua buổi Seminar của các nhà khoa học hàng đầu về các kết cấu đặc biệt chịu tải trọng nổ của ĐH Melbourne (Úc) trong một chuyến công tác tại Việt Nam, sáu tháng sau, GS Đức và các cộng sự trong NNC đã có những bài công bố trên các tạp chí quốc tế về vấn đề này và sau đó đã tiến tới bedava bonus bedava bonus veren bahis siteleri canlı casino canlı bahis canlı bahis oyna canlı bahis sitesi canlı bahis ký kết hợp tác giữa NNC của ông và NNC của ĐH Melbourne.

GS Đức và NNC cũng đã hợp tác hiệu quả với các nhà khoa học hàng đầu của ĐH Birmigham trong lĩnh vực Machine learning (học máy – trên nền tảng trí tuệ nhân tạo) thông qua đề tài hợp tác của Quỹ Newton do Hội Khoa học Công nghệ Hoàng Gia Anh tài trợ năm 2017. Thuật toán tối ưu của bầy ong đã được các giáo sư của ĐH Birmingham đề xuất từ những năm 80 và đã có hàng trăm luận án tiến sỹ, hàng nghìn bài báo đã công bố của các nhà khoa học từ nhiều quốc gia nghiên cứu và phát triển mở rộng lý thuyết này ứng dụng trong thực tế và Machine learning. GS Nguyễn Đình Đức và các học trò của ông trong NNC đã tiếp thu, lĩnh hội và áp dụng cho các tối ưu hóa kết cấu FGM, và lần đầu tiên đã đăng cai tổ chức hội nghị quốc tế về tối ứu hóa của bầy ong tại ĐHQGHN vào tháng 3 năm 2018, thu hút được những nhà khoa học từ các trường đại học hàng đầu của Vương Quốc Anh và Trung Quốc tham gia.

GS Nguyễn Đình Đức cho biết, trọng tâm nghiên cứu chuyên sâu và thế mạnh của PTN là các lĩnh vực: composite, vật liệu chức năng và vật liệu nano, vật liệu thông minh. Bên cạnh đó, NNC và PTN của ông cũng là cơ sở nghiên cứu tiên phong trong lĩnh vực vật liệu nano composite ứng dụng trong công nghiệp đóng tàu, trong lĩnh vực năng lượng mới; các loại vật liệu và kết cấu auxetic có khả năng giúp giảm chấn, hấp thu sóng nổ cũng như có thể giúp lưu trữ lượng thông tin khổng lồ, đáp ứng yêu cầu của trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0; các vật liệu tiên tiến có tính năng đặc biệt sử dụng trong các điều kiện khắc nghiệt ở Việt Nam,…Từ đó đã hình thành nên trường phái khoa học về vật liệu và kết cấu tiên tiến gắn với thông minh, với cách mạng công nghiệp 4.0, với tăng trưởng xanh và phát triển bền vững ở ĐHQGHN do GS. Nguyễn Đình Đức đứng đầu.
GS Nguyễn Đình Đức còn là Trưởng ban tổ chức và giữ vai trò nòng cột của nhiều hội nghị quốc tế có uy tín như: Hội nghị quốc tế về Cơ học Kỹ thuật và Tự động hóa ICEMA 2010, ICEMA 2012, ICEMA 2014, ICEMA 2016; Workshop quốc tế thường niên Vietnam – Canada – Japan về composite; Hội nghị quốc tế về tính toán trong khoa học vật liệu ACCMS TM 2018 (tháng 9 năm 2018) với sự tham gia của hơn 400 nhà khoa học, với hơn 200 báo cáo và 39 báo cáo mời của hàng trăm nhà khoa học hàng đầu từ 14 quốc gia tham dự.

GS Nguyễn Đình Đức cũng là trong số ít các nhà khoa học Việt Nam tham gia hội đồng biên tập của các tạp chí quốc tế có uy tín. Ông là thành viên hội đồng biên tập quốc tế của 4 tạp chí ISI là Cogent Engineering (Nhà xuất bản Taylor & Francis – Vương Quốc Anh), Journal of Science: Advanced Materials and Devices (Nhà xuất bản Elsevier, Hà Lan), Journal of Science and Engineering of Composite Materials (Nhà Xuất bản De Gruyter, Đức), Journal of Mechanical Engineering Science (Proc. IMechE Part C, Nhà xuất Bản SAGE, Viện KHCN Hoàng gia Anh) và được mời làm chuyên gia nhận xét, phản biện cho hơn 60 tạp chí ISI có uy tín của quốc tế. NNC, PTN và Khoa mới thành lập của GS Nguyễn Đình Đức đã và đang có quan hệ hợp tác bình đẳng, ngang tầm với các nhà PTN và các nhà khoa học có uy tín trong các trường đại học hàng đầu của Nhật Bản, Hàn Quốc, Vương quốc Anh, Úc, Canada,….như Đại học Công nghệ Tokyo và Đại học Tổng hợp Tokyo (Nhật Bản), Đại học Tổng hợp Melbourne (Úc), Đại học Birmingham (UK), ĐH Yonsei (Hàn Quốc), Đại học Tổng hợp Matxcova MGU (Liên bang Nga),…Ông cũng là thành viên của Hội đồng quốc tế về tính toán trong khoa học vật liệu ACCMS, thành viên Ủy ban quốc tế về vật liệu chức năng thông minh có cơ lý tính biến đổi FGM.

Các học trò được ông đào tạo và dìu dắt đã tỏa đi bốn phương trời, làm việc trong các môi trường trong nước và quốc tế, được cơ quan, doanh nghiệp trong nước và nước ngoài đánh giá cao về trình độ và kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ. Thậm chí có những em đào tạo trong nước ở NNC của GS Nguyễn Đình Đức còn xuất sắc hơn nhiều sinh viên, học viên cao học và NCS được đào tạo 100% ở nước ngoài.

Như vậy, với vai trò là người kiến tạo, cập nhật những hướng nghiên cứu mới nhất của thế giới trong NNC, vai trò nòng cột tổ chức nhiều hội nghị quốc tế có uy tín thành công, là thành viên của những Hội đồng biên tập tạp chí quốc tế có uy tín, đào tạo được những sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh sau khi ra trường đáp ứng được những tiêu chí khắt khe của các cơ quan và doanh nghiệp trong nước cũng như quốc tế…, đã chứng tỏ Thầy, trò của GS. Nguyễn Đình Đức và NNC đã và đang dần hội nhập và sánh vai với nền khoa học các nước trên thế giới. Kết quả đó cũng khẳng định vị thế ngành giáo dục đại học Việt Nam, của Đại học Quốc gia Hà Nội và vai trò của những người thầy cô giáo.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành công nêu trên, tâm sự với chúng tôi, GS Nguyễn Đình Đức cũng trăn trở và ước ao giá như được đầu tư hơn nữa về cơ sở vật chất và kinh phí cho nghiên cứu, có cơ chế đột phá để thu hút nhân tài, sẽ giữ chân được nhiều hơn các em học sinh giỏi, tài năng ở lại trường tiếp tục theo đuổi con đường nghiên cứu, thay vì hiện nay các em phải bươn chải kiếm sống ở bên ngoài.
Trên cơ sở đó cũng sẽ thu hút được nhiều tiến sỹ trẻ tài năng ở nước ngoài về làm việc, và đội ngũ cán bộ của nhà trường sẽ ngày càng hùng hậu, sẽ có thêm nhiều công bố quốc tế và phát minh sáng chế hơn nữa.

Giáo sư Nguyễn Đình Đức cũng hy vọng những học trò do ông đào tạo sẽ trở thành những hạt nhân lan tỏa đam mê khoa học và sự cống hiến tới các bạn trẻ để góp phần xây dựng đất nước Việt Nam hội nhập và phát triển, vươn lên bứt phá ngoạn mục trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0.

Vân Hương

NGÀNH KỸ THUẬT HẠ TẦNG – HỢP TÁC SÂU SẮC NHẬT BẢN-VIỆT NAM

Cuối tháng 6-2017, Đoàn công tác của chương trình Kỹ thuật hạ tầng – ĐH Việt Nhật do GS Nguyễn Đình Đức (ĐHQGHN, Giám đốc chương trình), GS Hironori Kato (Đồng giám đốc chương trình) dẫn đầu và TS Phan Lê Bình (JICA) đã đưa các học viên khóa 1 – Kỹ thuật hạ tầng của Đại học Việt Nhật đến thực tế tại các công trình kỹ thuật lớn của Nhật Bản đang thi công tại Việt Nam.

Công trình thứ nhất mà Đoàn đi thực tế là cầu Bình Khánh – là cây cầu dây văng nằm trong dự án trọng điểm quốc gia Đường cao tốc Bến Lức – Long Thành thuộc tuyến Đường cao tốc Bắc – Nam – được biết đến là dự án đường bộ cao tốc lớn nhất miền Nam, tương lai khi đi vào hoạt động tuyến đường này sẽ giúp kết nối các địa bàn trọng điểm như TP. Hồ Chí Minh, Long An và Đồng Nai từ đó thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, tăng vốn đầu tư và mở rộng du lịch vùng. Cầu Bình Khánh có tổng chiều dài 2.764 m, rộng 21,75 m với bốn làn xe lưu thông. Nhịp chính cầu dài 375 m, hai trụ cầu cao 155 m, tĩnh không 55 m. Nhà thầu trúng thầu là Liên doanh Shimizu Corporation – Công ty cổ phần Đầu tư Xây dựng và Kỹ thuật Vinaconex (liên doanh Shimizu – Vinaconex E&C) với giá trúng thầu tương ứng hơn 4 tỷ JPY và hơn 3.000 tỷ VNĐ. Cầu Bình Khánh sẽ là một trong những cây cầu có khổ tĩnh không thông thuyền lớn nhất Việt Nam, được xây dựng từ tháng 8 năm 2015 và dự kiến hoàn thành vào tháng 7 năm 2019.

Công nghệ tiêu biểu của công trình cầu này là : đây là cầu dây văng bê tông dư ứng lực và móng vòng vây cọc ống thép SPSP ( Steel Pipe Sheet Pile). Ưu điểm của cầu dây văng là một trong những hệ kết cấu phù hợp với cầu có chiều dài nhịp lớn, tối ưu hóa khả năng làm việc của tháp, cáp văng và dầm. Cầu dây văng được áp dụng cho nhịp có chiều dài từ 200 đến 1100 mét; có thể thi công bằng cách đúc hẫng ra từ tháp, biện pháp này không cần đà giáo từ mặt đất; cáp dây văng không chỉ nâng đỡ dầm trong quá trình khai thác mà cả trong giai đoạn thi công; đồng thời cầu dây văng còn có ưu điểm là tạo ra công trình và cảnh quan mang tính biểu tượng (như cầu Nhật Tân, Cầu Bính, Cầu Bãi Cháy,..). Còn hệ móng vòng vây cọc ống thép SPSP sử dụng giải pháp hệ móng cọc ống thép. Cọc ống thép và ống nối được đóng thành giếng, trụ cầu được thi công trong giếng. Cọc ống thép được sử dụng như là vòng vây ngăn nước trong quá trình thi công và cũng là hệ móng chịu lực trong quá trình khai thác.

 img_1366

Thầy và trò ngành kỹ thuật hạ tầng – ĐH Việt Nhật tại công  trường cầu dây văng Bình Khánh

Công trình thứ 2 mà Đoàn đi thực tế là Dự án Metro Bến Thành – Suối Tiên  (hay còn gọi là tuyến số 1) là một trong chuỗi dự án xây dựng hệ thống đường sắt đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh có tổng vốn 2,49 tỷ USD (hơn 47.000 tỷ đồng) do Ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật Bản cho vay với hình thức ODA, được khởi công tháng 8/2012. Tuyến có tổng chiều dài là 19,7 km, bao gồm 2,6 km đi ngầm và 17,1 km đi trên cao và là tuyến Metro đầu tiên – 1 trong 7 tuyến Metro được quy hoạch xây dựng của TP Hồ Chí Minh trong tương lai. Dự án được cho là cải thiện tình hình giao thông đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh vốn được coi là nơi xảy ra nhiều vấn đề về tắc nghẽn giao thông nhất Việt Nam, ngoài ra, theo đánh giá  dự án còn giúp nâng cao chất lượng không khí, tiết kiệm năng lượng, nâng giá trị đất và các tác động kinh tế- xã hội khác do tiết kiệm thời gian vận chuyển. Theo dự kiến đến 2020 tuyến đường sắt đô thị Metro Bến Thành – Suối Tiên sẽ được đưa vào hoạt động. Nhà thầu chính của dự án là Shimizu – Maeda, trong đó CTCP FECON là nhà thầu Việt Nam đã được liên doanh nhà thầu Shimizu – Maeda chính thức lựa chọn để tham gia vận hành trực tiếp thiết bị khoan đào cho công tác đào hầm metro.  Công nghệ tiêu biểu nhất là đào hầm bằng thiết bị khoan đào – TBM (Tunnel Boring Machine). Thiết bị đào ngầm bằng robot TBM từ Nhật Bản có tổng chiều dài 70 mét, nặng 300 tấn, với bán kính khoan đường hầm 6,79 m (hiện nay ở Nhật Bản đang thi công đường vành đai 3 ở Tokyo ở chiều sâu 60 m dưới lòng đất và sử dụng robot TBM khoan đào với bán kính khủng, lớn nhất thế giới,  tới 16,5m).  Công nghệ khoan đào bằng máy TBM có nhiều ưu điểm và tiện lợi hơn hẳn so với hầm đào hở. Máy TBM sử dụng phương pháp cân bằng áp lực đất, và kích đẩy, từ đó có thể giảm nguy cơ sụt lún mặt đất cho khu vực thực hiện dự án đào hầm ngầm và cho phép đào đến đâu lắp vách tường bê tông bao quanh mặt trong hầm ngay đến đó. Việc khoan này được thực hiên dưới độ sâu 15 – 30m, cho nên trong quá trình xây dựng tuyến hầm sẽ không cần di dời, giải tỏa các công trình trên mặt đất, vì vậy không ảnh hưởng nhiều đến đời sống sinh hoạt của người dân. Công tác trộn bê tông được thực hiện ngay tại nhà xưởng sau đó mới đưa vào hệ thống chứa bê tông của máy TBM. Vì vậy, Ban quản lý dự án có thể kiểm tra được chất lượng của bê tông, kiểm soát có hiệu quả tiến độ thi công công trình. Trung bình 1 ngày, robot TBM có thể khoan 12m đường hầm. Sau mỗi lần khoan được 1,2m sẽ lắp đặt 6 tấm bê tông làm vách hầm xong mới khoan tiếp. Các tấm bê tông này được đúc sẵn, kết nối với nhau bằng các đoạn thép vít và lớp cao su vĩnh cửu để ngăn thấm nước – tất cả được sản xuất chế tạo từ Nhật Bản.

 

img_1468

 Thầy và trò ngành kỹ thuật hạ tầng của ĐH Việt Nhật tại hầm Metro , TP Hồ Chí Minh

Công trình thứ 3 mà Đoàn khảo sát là hiện trường thi công của Dự án cải thiện môi trường nước Tp Hồ Chí Minh giai đoạn 2. Dự án cải thiện môi trường nước Tp Hồ Chí Mình được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương phê duyệt vào năm 2006, sau khi thiết kế dự toán và tuyển chọn nhà thầu, dự án được khởi động thi công lần lượt các gói thầu từ năm 2015 và dự kiến hoàn thành vào năm 2020. Mục tiêu chính của dự án là tiếp tục hoàn thiện hệ thống thoát nước mưa, góp phần giảm ngập cho lưu vực kênh Tàu Hũ – Bến Nghé – Đôi – Tẻ theo quy hoạch tổng thể thoát nước của TP.HCM, cùng với đó chỉnh trang đô thị, cải thiện môi trường nước, khắc phục tình trạng ô nhiễm nước trên tuyến kênh này thông qua việc xây dựng và phát triển hệ thống thu gom và xử lý nước thải. Tổng mức đầu tư của Dự án là 11.282 tỷ VND (trong đó, vốn ODA: 85,625 tỷ JPY tương đương 9.832 tỷ VNĐ chiếm 87% tổng mức đầu tư). Các hạng mục công trình của Dự án sẽ được triển khai, xây dựng trên địa bàn 7 quận/ huyện của TP.HCM, gồm Quận 4, 5, 6, 8, 10, 11 và huyện Bình Chánh với tổng diện tích lưu vực 2150 ha. Tại gói thầu G: Xây dựng hệ thống cống bao gom xử lý nước thải với tổng cộng  33.768m cống bao thu gom nước thải, được thực hiện bởi liên doanh công ty Yasuda-Kolon -và là nhà thầu chính trong gói thầu này. Công nghệ tiêu biểu là khoan kích ống, điểm khác biệt so với công nghệ khoan hầm Metro là sau khi đẩy mũi khoan đi sâu vào lòng đất thì những đốt ống dài khoảng 2,5m được kích đẩy tiến lên theo để tạo thành đường ống liên tục . Ngoài công nghệ khoan, công nghệ trắc đạc tiên tiến được áp dụng vào đây để giúp điều chỉnh hướng mũi khoan được chính xác, có thể uốn lượn trong lòng đất trong quá trình khoan chứ không chỉ khoan theo đường thẳng. Phương pháp mới này sẽ thay thế phương pháp đào, lấp thông thường, đồng thời giảm thời gian thi công cũng như giảm những tác động tiêu cực đến bộ mặt đô thị. Hiện nay các dự án cung cấp xử lý đường ống cấp thoát hầu hết được thi công bằng phương pháp đào mở nên dù hình thức đơn giản, chi phí thấp nhưng khó quản lý. Trong khi đó việc thi công lại kéo dài, gây mất mỹ quan đô thị, để lại hậu quả là những con đường chắp vá. Hạn chế lớn nhất của phương pháp đào mở là chỉ phù hợp cho việc thi công ở độ sâu ngắn, nằm ngay gần mặt đất. Khoan kích ống ngầm là phương pháp thực hiện thiết lập cửa hầm đầu và cửa hầm cuối của đoạn đường cống ngầm cần lắp đặt. Dùng kích đẩy máy đào từ cửa hầm đầu hướng về cửa hầm cuối, sau đó đặt các đoạn ống (bê tông) đã được làm sẵn nối tiếp sau máy đào và kích đẩy dần các đoạn ống này nối tiếp theo máy đào cho đến khi đầu mối chạm đến cửa hầm cuối tạo thành một đường cống ngầm dài xuyên suốt. Công nghệ kích đẩy bằng định vị điều khiển tự động nên không cần sử dụng con người. Nếu dùng nhân công sẽ nguy hiểm và tiến độ rất chậm. Các ưu điểm của công nghệ này có thể liệt kê: Về mặt kỹ thuật, có thể thi công ở những độ sâu khác nhau. Thông thường chiều sâu kinh tế để áp dụng phương pháp kích ống khi độ sâu chôn ống ≥ 6m. Ở những độ sâu thấp hơn, phương pháp kích ống được xem xét trong mối quan hệ với nhiều yếu tố khác như tài chính, môi trường; tiếp đó công nghệ này ngăn sự thâm nhập của nước ngầm bằng các gioăng kín nước; Rủi ro sụt lún thấp; Xáo động tối thiểu trên mặt đất; Giảm thiểu khối lượng công tác đào đắp, công tác tái lập; Ít ảnh hưởng đến các công trình hạ tầng kỹ thuật khác. Về mặt môi trường so với phương pháp đào hở truyền thống là sẽ giảm được khối lượng vật tư “đến” và “đi” cùng với việc giảm được công tác đổ đất và công tác san lấp tái lập lại mặt bằng. Trong nhiều trường hợp việc sử dụng kỹ thuật kích ống thay vì đào hở sẽ đem lại ảnh hưởng tích cực đến an toàn tại nơi làm việc, đến đời sống người dân quanh khu vực thi công, đến môi trường tại địa phương.

Có thể đánh giá Nhật Bản là quốc gia có công nghệ kỹ thuật hạ tầng hiện đại và tiên tiến nhất thế giới và những công nghệ hiện đại đó đang được triển khai tại Việt Nam. Nguồn vốn ODA của Nhật Bản đầu tư vào Việt Nam dành tỷ lệ rất lớn cho cơ sở hạ tầng. Chỉ riêng trong khoảng thời gian từ 1992-2011, Nhật Bản đã dành 19,7 tỷ USD nguồn vốn ODA cho Việt Nam, kết quả đã mở thêm 3309 km đường, xây dựng được 287 cây cầu các loại  và tăng thêm sản lượng 4500 MW  điện, và nguồn ODA này vẫn đang tiếp tục được đầu tư ngày càng lớn và hiệu quả cho Việt Nam.

Chính vì vậy, việc thành lập và đào tạo ngành kỹ thuật hạ tầng có mục tiêu trước hết là tận dụng thế mạnh về khoa học công nghệ tiên tiến của Nhật Bản, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao để tiếp quản và chuyển giao những công nghệ tiên tiến của Nhật bản cho Việt Nam, đồng thời cũng đào tạo nguồn nhất lực chất lượng cao có thể đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động toàn cầu. Cần nhấn mạnh là khái niệm về kỹ thuật hạ tầng của Việt Nam và khái niệm về kỹ thuật hạ tầng của Nhật Bản và thế giới đang có sự khác biệt rất lớn. Ở Việt Nam, nói đến kỹ thuật hạ tầng, làm người ta hiểu đó là kỹ thuật các công trình hạ tầng cấp thoát nước giao thông, đô thị, các công trình thủy lợi. Theo nội hàm và nội dung đào tạo của Nhật Bản cũng như thế giới, thì kỹ thuật hạ tầng ( Infrastructure Engineering) là khái niệm rất rộng, thực chất là  công nghệ kỹ thuật trong xây dựng, giao thông, thủy lợi.

Chương trình đào tạo thạc sỹ kỹ thuật hạ tầng của Đại học Việt Nhật được xây dựng trên cơ sở hợp tác với đối tác chính là Đại học Tokyo (Đại học hàng đầu của Nhật Bản và là một trong những đại học lớn hàng đầu của thế giới), và khoảng 10 trường đại học khác của Nhật Bản tham gia. Chương trình bao gồm khối kiến thức chung, kiến thức cơ bản và cụ thể. Các môn học với kiến thức chung sẽ giúp học viên có kiến thức bao quát về khoa học bền vững, xã hội và môi trường. Trong khi đó, các khóa học cơ bản, cụ thể giúp họ tích lũy kiến thức và kỹ năng cốt lõi liên quan đến 7 lĩnh vực chủ yếu là (1) xây dựng dân dụng và công nghiệp, (2) công trình giao thông, thủy lợi (3) xây dựng cầu và đường, (4) quy hoạch (lãnh thổ, vùng và đô thị), (5) công nghệ vật liệu mới trong xây dựng và giao thông, kết cấu hạ tầng (6) duy tu, bảo trì công trình xây dựng, giao thông, thủy lợi và (7) quản lý các dự án.

Từ những nền tảng kiến thức, sinh viên có thể thực hiện các nghiên cứu chuyên sâu trong các lĩnh vực nêu trên với các giảng viên Việt Nam và Nhật Bản. Hơn 50% giảng viên của chương trình kỹ thuật hạ tầng đến từ trường Đại học Tokyo và các trường đại học uy tín khác ở Nhật Bản. Chương trình này cũng góp phần nâng cao kỹ năng thực hành cho học viên thông qua thực thành tại các phòng thí nghiệm hiện đại, qua các kỳ thực tế tại các doanh nghiệp Việt Nam và Nhật Bản trong lĩnh vực này (và những chuyến đi thực tế như vừa rồi tại các công trình của Nhật Bản đang thi công ở Việt Nam là một ví dụ – toàn bộ chi phí do JICA và Đại học Việt Nhật tài trợ), cũng như ba tháng thực tập tại các phòng thí nghiệm và các doanh nghiệp tại Nhật Bản (chi phí cho chuyến đi của học viên được tài trợ 100% bới chính phủ Nhật Bản).

Bên cạnh đó, trường Đại học Việt Nhật xác định là trường đại học nghiên cứu tiên tiến. Trong 1 năm đi vào hoạt động, chỉ riêng các giảng viên của ngành kỹ thuật hạ tầng đã công bố khoảng 20 bài báo quốc tế ISI có tên của Đại học Việt Nhật. Trong số các học viên của chương trình, cũng đã có em có kết  quả nghiên cứu tốt, được báo cáo tại hội nghị khoa học quốc tế.  Các PTN về kỹ thuật hạ tầng, Công nghệ nano và Kỹ thuật môi trường được Nhà nước đầu tư cũng chuẩn bị đi vào hoạt động vào cuối năm 2017. Bên cạnh đó, trường còn có chính sách học bổng rất tốt: 100% học viên khóa 1 được cấp học bổng của JICA hoặc của các doanh nghiệp Nhật Bản. Các em tốt nghiệp chương trình thành thạo cả tiếng Anh và tiếng Nhật.

Có thể đánh giá đây là ngôi trường đẳng cấp quốc tế tại Việt Nam, được Chính phủ và nhân dân 2 nước gửi gắm niềm tin và hy vọng. Với sự quan tâm của Chính phủ 2 nước, sự nhiệt tình và tâm huyết của các giảng viên Nhật Bản và Việt Nam, chất lượng của đội ngũ học viên và các điều kiện tốt đảm bảo cho giảng dạy, học tập và nghiên cứu, chắc chắn Trường Đại học Việt Nhật, trong đó có ngành Kỹ thuật hạ tầng, ngày càng phát triển nhanh và mạnh, xứng đáng là địa chỉ tin cậy đào tạo chất lượng cao, trình độ cao, chuẩn quốc tế ngay tại Việt Nam, là biểu tượng sâu sắc của tình hữu nghị và hợp tác chiến lược của hai nước Việt Nam và Nhật Bản.

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, Giám đốc Chương trình Kỹ thuật hạ tầng, Đại học Việt Nhật, 02.7.2017 

HỘI THẢO KHOA HỌC NGÀNH KỸ THUẬT HẠ TẦNG TẠI ĐẠI HỌC VIỆT NHẬT, NGÀY 3/12/2016

Sáng thứ bảy ngày 3/12 vừa qua, hơn 60 đại biểu đã tham dự hội thảo khoa học lần đầu tiên của chương trình Kỹ thuật hạ tầng – Đại học Việt Nhật phối hợp với đối tác là trường Đại học Tokyo tổ chức. Các đại biểu tham dự hội thảo gồm có GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, GS.TS Hironori Kato, GS.TSKH Đào Huy Bích, GS.TSKH Nguyễn Đăng Bích, GS.TS Trần Ích Thịnh, chuyên gia JICA, các giảng viên, các PGS, các TS trẻ và các em NCS đến từ ĐH Công nghệ Tokyo (TIT), ĐH Việt Nhật, ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐH Công nghệ, ĐH Bách Khoa, ĐH Xây dựng, ĐH Kiến trúc, ĐH Giao thông vận tải, Học Viện Kỹ thuật quân sự, ĐH Thủy lợi, ĐH Công nghệ Giao thông Vận tải, Viện Hàn lâm KHCN Việt Nam (VAST), Viện KHCN xây dựng – BXD và Công ty Chodai & Kiso-jiban Việt Nam.

img_1368

 GS Nguyễn Đình Đức chủ trì Hội thảo (VJU, 03.12.2016)

Dưới sự chủ trì của GS. Nguyễn Đình Đức, hội thảo đã nghe và thảo luận về những vấn đề mang tính thời sự như tác động của việc cấm xe máy tại thành phố Yangon của Myanmar (của GS.S Hironori Kato, ĐH Tokyo) ; giới thiệu về mục tiêu, nội dung và sự khác biệt của chương trình đào tạo thạc sỹ kỹ thuật hạ tầng của Trường Đại học Việt Nhật; về PTN Vật liệu và Kết cấu tiên tiến, những hướng nghiên cứu hiện đại và kết quả nghiên cứu mới trong ngành vật liệu và kết cấu tiên tiến và một số ứng dụng của những vật liệu mới này trong linh vực kỹ thuật hạ tầng ở Việt Nam; về kết quả nghiên cứu cách bố trí các trạm hậu cần trên toàn quốc để ứng phó với thiên tai lớn như trường hợp động đất mạnh xảy ra tại Nepal vào năm 2015 (của Ms. Rajali Maharjan – người Nepal, đang là NCS năm cuối tại ĐH KHCN Tokyo); nghe giới thiệu về những kết quả nghiên cứu về ổn định tĩnh và động của kết cấu vỏ cầu FGM của Vũ Thị Thùy Anh (NCS năm cuối, ĐHCN) và những kinh nghiệm thực tế trong công tác sửa chữa cầu Bính sau khi bị tàu thủy đứt neo va đụng làm hư hỏng vào năm 2010 của Công ty Chodai & Kiso-jiban Việt Nam.

img_1445

Ảnh 2 – GS Nguyễn Đình Đức, GS Kato, các chuyên gia JICA và các em học viên VJU với các đồng nghiệp Khoa Công trình ĐH Thủy lợi tại Seminar 3.12

Trong hội thảo, các nhà nghiên cứu, các em học sinh đã có cơ hội tiếp cận với những nghiên cứu mới, gặp gỡ trao đổi thông tin mới, bổ ích với các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, đồng thời tiếp cận được với những thông tin về các hoạt động diễn ra trên thực tế tại hiện trường trong lĩnh vực Kỹ thuật hạ tầng tại Việt Nam. Trong giờ giải lao, các sinh viên khóa đầu tiên của Chương trình Kỹ thuật hạ tầng – Đại học Việt Nhật đã nhiệt tình trình diễn bài hát tiếng Nhật đầu tiên mà các em được học.

Hội thảo được sự đánh giá cao về nội dung chuyên môn, về cách thức tổ chức chuyên nghiệp mà vẫn ấm áp thân thiện. Chương trình Kỹ thuật hạ tầng dự kiến sẽ định kỳ tiếp tục tổ chức những hội tương tự trong thời gian tới.

Tin từ VP Chương trình Kỹ thuật Hạ tầng – ĐH Việt Nhật.

When you’re write my research paper using midnightpapers ready to publish your site, click publish.

GS Nguyễn Đình Đức: Lần đầu tiên Việt Nam đào tạo Thạc sĩ Kỹ thuật hạ tầng theo chuẩn Nhật Bản

26.5.2016. Là một trong 6 chương trình thạc sĩ đầu tiên của Trường Đại học Việt Nhật, ĐHQGHN, chương trình Kỹ thuật hạ tầng có mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao theo chuẩn Nhật Bản với sự hỗ trợ lớn từ Chính phủ Việt Nam và Nhật Bản. Vậy chuyên ngành này được đào tạo như thế nào? Có điểm gì khác biệt so với các chương trình đào tạo (CTĐT) về Kỹ thuật hạ tầng hiện nay?

Hiện tại, chương trình thạc sĩ Kỹ thuật hạ tầng của ĐH Việt Nhật đang trong quá trình tuyển sinh và nhận được rất nhiều sự quan tâm. Chúng tôi đã trao đổi với GS. TSKH. Nguyễn Đình Đức, đồng chủ trì với GS. Kato Hironori từ ĐH Tokyo xây dựng và vận hành chương trình Kỹ thuật hạ tầng tại Trường ĐH Việt Nhật về vấn đề này.


GS.TSKH Nguyễn Đình Đức

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức

Thưa GS.TSKH.Nguyễn Đình Đức, GS có thể giới thiệu tổng quan về chương trình Kỹ thuật hạ tầng của trường ĐH Việt Nhật?

Chương trình đào tạo (CTĐT) thạc sĩ Kỹ thuật hạ tầng được xây dựng dựa trên sự chuyển giao chương trình, kinh nghiệm và công nghệ đào tạo của ĐH Tokyo, một trong những đại học hàng đầu Châu Á. Nội dung CTĐT được cập nhật các công nghệ tiên tiến, trọng tâm vào những lĩnh vực thế mạnh của Nhật Bản như: Thiết kế, thi công, ứng dụng công nghệ hiện đại vào công trình xây dựng, công trình giao thông, cầu, đường; Quy hoạch giao thông, đô thị; Bảo trì và duy tu các dự án cơ sở hạ tầng hướng đến phát triển bền vững; Quản lý các dự án; Ứng dụng vật liệu mới vào lĩnh vực giao thông và xây dựng dân dụng.

Hơn 50% giảng viên giảng dạy đến từ ĐH Tokyo và các đại học danh tiếng khác của Nhật Bản. Chương trình chú trọng nâng cao kỹ năng thực hành và kinh nghiệm thực tế của học viên qua các hoạt động thí nghiệm/ nghiên cứu tại phòng thí nghiệm hiện đại và kỳ thực tập 3 tháng tại Nhật.

Học phí khóa đầu tiên (2016-2018)của CTĐTlà 3.300 USD (tương đương 75 triệu đồng), chỉ khoảng 1/5 chi phí đào tạo thực tế, 4/5 chi phí còn lại sẽ được tài trợ bởi Chính phủ Nhật Bản và Việt Nam.

Chính phủ Nhật Bản và trường ĐH Việt Nhật đã quyết định cấp nhiều suất học bổng hỗ trợ học phí toàn phần và bán phần cho học viên chương trình thạc sĩ Kỹ thuật hạ tầng.Tối thiểu 50% số học viên của CTĐT sẽ được cấp học bổng trị giá 5.000 USD cho kỳ thực tập 3 tháng tại Nhật Bản. Thông tin về học bổng và các hỗ trợ khác được đăng tải cụ thể trên Website và Facebook của trường ĐH Việt Nhật.

Thưa GS, chương trình thạc sĩ Kỹ thuật hạ tầng của trường ĐH Việt Nhật so với các CTĐT trong cùng lĩnh vực của các trường ĐH khác có gì khác biệt?

Chương trình thạc sĩ Kỹ thuật hạ tầng của trường ĐH Việt Nhật được xây dựng từ chương trình gốc của ĐH Tokyo, có tích hợp các yêu cầu thực tiễn của doanh nghiệp Nhật Bản, Việt Nam và điểm mạnh của các CTĐT hàng đầu của Việt Nam, thế giới về Kỹ thuật hạ tầng. Chương trình có tính liên ngành cao với việc trang bị cho học viên tầm nhìn rộng của khoa học bền vững bên cạnh các kiến thức, kỹ năng chuyên ngành. Chịu trách nhiệm xây dựng và giảng dạy chương trình là các GS, chuyên gia đầu ngành của Nhật Bản và Việt Nam.

Điểm khác biệt tiếp theo là phương pháp đào tạo lấy người học làm trung tâm. Học viên trong chương trình được khuyến khích phát huy tối đa năng lực bản thân, chủ động tự lựa chọn định hướng nghiên cứu và phát triển chuyên sâu vào lĩnh vực mình quan tâm dưới sự hướng dẫn của giảng viên.

Một điểm khác biệt quan trọng nữa của chương trình là tính thực hành cao, các kiến thức được giảng dạy có thể áp dụng ngay vào thực tế. Các học phần của chương trình đều có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn thông qua các giờ thực hành, thực tập.

Từ các đặc điểm nêu trên, CTĐT thạc sĩ Kỹ thuật hạ tầng tại trường ĐH Việt Nhật có thể đáp ứng được nhiều đối tượng học viên và yêu cầu nhân lực của các doanh nghiệp trong và ngoài nước.

Thưa GS, các học viên theo học chương trình này được trang bị những kiến thức và kỹ năng gì? Đâu là những điểm mạnh của chương trình?

Nội dung CTĐT bao gồm các khối kiến thức từ cơ sở đến chuyên sâu. Các học phần của khối kiến thứcchung giúp học viên có cái nhìn bao quát của khoa học bền vững về xã hội và môi trường xung quanh. Khối kiến thức cơ sở giúp học viên tích lũy được các kiến thức và kỹ năng cốt lõi liên quan đến các lĩnh vực của Cơ sở hạ tầng (Civil Engineering).Từ những kiến thức nền tảng đó học viên có thể thực hiện các nghiên cứu chuyên sâu trong các lĩnh vực như kỹ thuật hạ tầng giao thông, kỹ thuật xây dựng đô thị và các công trình đặc biệt, quy hoạch đô thị, quản lý dự án,… và đặc biệt là xây dựng công trình giao thông vận tải (cầu, hầm, đường, quản lý dự án,…) là lĩnh vực hiện được đầu tư và phát triển mạnh tại Việt Nam. Hơn 40% vốn ODA từ Nhật Bản được đầu tư vào lĩnh vực này. Các điểm mạnh của chương trình được liệt kê dưới đây:

Một là sau khi tốt nghiệp, học viên đạt được các kiến thức và kỹ năng tương đương với yêu cầu đầu ra của các CTĐT thạc sĩ trong lĩnh vực Kỹ thuật hạ tầngtại ĐH Tokyo và các đại học Nhật Bản.

Hai là thông qua các học phần thực tập, thực tế và kỳ thực tập 03 tháng, học viên rèn luyện các kỹ năng phân tích, đánh giá vấn đề và có khả năng đề xuất giải pháp về kỹ thuật và công nghệ trong lĩnh vực Kỹ thuật hạ tầng. Học viên còn có năng lực tiếp nhận và chuyển giao các kỹ thuật tiên tiến và công nghệ mới từ Nhật Bản và thế giới phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Ba là học viên sẽ được học tập trong môi trường quốc tế với giảng viên, học viên Việt Nam, Nhật Bản và quốc tế. Chương trình được giảng dạy bằng tiếng Anh, học viên sẽ thực hiện luận văn dưới sự đồng hướng dẫn của GS Nhật Bản và Việt Nam. Qua đó học viêncó khả năng sử dụng tiếng Anh thành thạo trong giao tiếp và chuyên môn sau khi tốt nghiệp. Ngoài ngôn ngữ học tập và giảng dạy chính là tiếng Anh, học viên được học tập ngôn ngữ và văn hóa Nhật Bản,được tham gia các lớp ngoại khóa đào tạo các kỹ năng mềm.

GS có thể cho biết tình hình đào tạo chuyên ngành kỹ thuật hạ tầng ở Việt Nam hiện nay? Triển vọng nghề nghiệp của lĩnh vực này trong thời gian tới vàcơ hội việc làm cho học viên sau khi tốt nghiệp?

Sau gần 30 năm kể từ khi thực hiện chính sách Đổi Mới, Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển nhanh đòi hỏi phải đầu tư chiến lược vào Cơ sở hạ tầng như xa lộ, đường sắt, cảng biển, sân bay…; các công trình năng lực phức hợp như các nhà máy thủy điện, chạy than và khí đốt; các công trình đô thị, các công trình trên đất liền và biển, đảo.

Theo Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011 -2020 của Chính Phủ, nhân lực khối ngành xây dựng sẽ tăng từ 2,9 triệu người năm 2010 lên khoảng 5 triệu vào năm 2015, khoảng 8 – 9 triệu người vào năm 2020. Nhu cầu nhân lực được đào tạo trình độ cao đẳng, đại học sẽ tăng dần lên với bậc cao đẳng chiếm khoảng 2% năm 2015, khoảng 3% năm 2020, bậc đại học và trên đại học chiếm khoảng 4,5% năm 2015 và khoảng 5% năm 2020.

Để đáp ứng nguồn nhân lực trong lĩnh vực Cơ sở hạ tầng, nhiều trường đại học trong nước đã và đang đào tạo các ngành truyền thống như: Kỹ thuật Xây dựng Dân dụng & Công nghiệp, Kỹ thuật Xây dựng Công trình Giao thông, Kỹ thuật Xây dựng Công trình Thủy lợi,… và gần đây nhất là ngành Kỹ thuật hạ tầng của trường ĐH Việt Nhật.

Mặc dù đã có nhiều trường đại học đào tạo kỹ sư và các chuyên gia ngành Cơ sở hạ tầng, nhưng có thể nhận định rằng nhu cầu nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực chất lượng cao nói riêng cho lĩnh vực này ở Việt Nam còn rất lớn, thậm chí sẽ tăng mạnh trong thời gian tới.

Bên cạnh việc tích lũy được kiến thức và kỹ năng chuyên môn, học viên của chương trình được rèn luyện trong môi trường học tập quốc tế, đa văn hóa. Do đó sau khi tốt nghiệp, học viên thích hợp với nhiều môi trường làm việc khác nhau, có cơ hội làm việc trong các doanh nghiệp trong và ngoài nước, đặc biệt là các doanh nghiệp Nhật Bản.

Những học viên có năng lực nghiên cứu tốt có thể học tiếp các CTĐTtiến sĩtrong và ngoài nước, đặc biệt là có cơ hội nhậnhọc bổng nghiên cứu sinh tại các trường ĐH đối tác Nhật Bản.

Xin trân trọng cám ơn GS!

26.5.2016  Theo Dantri

To confirm that your site published correctly, visit your https://eduessayhelper.org/ site’s url 7- allow others edit access to your site open a site in google sites.