GS Nguyễn Đình Đức: Các chương trình đào tạo thí điểm – “đặc sản” trong đào tạo của ĐHQGHN

18.4.2014. Kể từ ngày thành lập đến nay, ĐHQGHN đã mở 25 ngành, chuyên ngành đào tạo thí điểm, trong đó có 4 chương trình đại học, 18 chương trình thạc sĩ và 3 chương trình tiến sĩ.  Ngày 18.4, ĐHQGHN đã tổ chức hội nghị tổng kết đánh giá các chương trình đào tạo thí điểm. Nhân dịp này, phóng viên Website của ĐHQGHN đã trao đổi, phỏng vấn nhanh GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, Trưởng ban Đào tạo của ĐHQGHN xung quanh chủ đề về các chương trình thí điểm và hoạt động đào tạo của ĐHQGHN.

Ảnh từ trái sang: GS. Ngô Bảo Châu, Phó Giám đốc ĐHQGHN  GS. Nguyễn Hữu Đức, Trưởng ban Đào tạo ĐHQGHN GS.TSKH Nguyễn Đình Đức tại ĐHQGHN (tháng 12/2013)

PV: Thưa GS, tại hội nghị tổng kết các chương trình đào tạo thí điểm, nhiều đại biểu đã đánh giá các chương trình đào tạo thí điểm như những “đặc sản” trong đào tạo của ĐHQGHN. GS đánh giá thế nào về nhận định này?

Các chương trình đào tạo thí điểm là các chương trình đào tạo chưa có trong danh mục đào tạo của Nhà nước. Theo Nghị định và Quy chế tổ chức hoạt động của ĐHQG, giám đốc 2 đại học quốc gia  được quyền mở ngành (bậc đào tạo đại học) và chuyên ngành (bậc đào tạo sau đại học) thí điểm. Hiện nay giám đốc các đại học vùng và hiệu trưởng một số đại học trọng điểm cũng đã được Bộ giáo dục và đào tạo cho phép quyết định mở các chuyên ngành thí điểm ở bậc sau đại học.

Trưởng ban Đào tạo ĐHQGHN GS.TSKH Nguyễn Đình Đức

Tại hội nghị tổng kết, các số liệu cho thấy các chương trình thí điểm đều đã góp phần đáp ứng kịp thời, hiệu quả nhu cầu nguồn nhân lực của đất nước. Có thể lấy ví dụ ngay từ năm 2006, ĐHQGHN là cơ sở giáo dục đại học đầu tiên trong cả nước đã mở ngành đào tạo thạc sỹ đo lường và đánh giá trong giáo dục và sau đó là chương trình tiến sỹ của chuyên ngành này. Đến nay, hầu hết cán bộ trong những lứa đầu tiên của ngành và địa phương trên toàn quốc liên quan đến khảo thí, đánh giá kiểm định chất lượng giáo dục đều được đào tạo từ những chương trình này. Hoặc như chương trình Tâm lý học lâm sàng trẻ em và vị thành niên của ĐH Giáo dục, chương trình thạc sỹ du lịch học của ĐH Xã hội và Nhân văn,… đều được xây dựng trên cơ sở nhu cầu lớn về nguồn nhân lực của đất nước trong quá trình hội nhập và phát triển.Từ năm 1993 đến nay, ĐHQGHN đã mở đào tạo 25 ngành, chuyên ngành đào tạo thí điểm, trong đó có 4 chương trình đại học, 18 chương trình thạc sỹ và 3 chương trình tiến sỹ. Trong số đó có 3 chương trình bậc đại học (Hóa dược, Kinh tế phát triển, Luật kinh doanh), 2 chương trình thạc sỹ (Ngôn ngữ Nhật bản, Đo lường và đánh giá trong giáo dục) và 1 chương trình tiến sỹ (Đo lường và đánh giá trong giáo dục) đã được đưa bổ dung vào danh mục các ngành, chuyên ngành đào tạo của Nhà nước.

Hai là chất lượng của các chương trình đào tạo thí điểm được xã hội khẳng định. Ví dụ như chương trình thạc sĩ và tiến sĩ Vật liệu và linh kiện nano: các học viên, NCS trong quá trình đào tạo đều có công trình công bố tại các hội nghị khoa học chuyên ngành, các tạp chí khoa học chuyên ngành quốc gia và quốc tế. Trung bình khoảng 1.5 công bố/học viên (bậc thạc sỹ). Số bài báo khoa học công bố trước khi bảo vệ luận án của NCS đạt từ 6 bài trở lên, đặc biệt, trong đó mỗi NCS đều có ít nhất 2 bài được công bố trên các tạp chí khoa học thuộc hệ thống tạp chí ISI. Kết quả như vậy có thể khẳng định chất lượng của các tiến sỹ được đào tạo không hề thua kém chất lượng đào tạo tại những nước tiên tiến.

Sinh viên Trường Đại học Ngoại ngữ – ĐHQGHN

Những ví dụ đó cho thấy tính đặc sắc, độc đáo và chất lượng của các chương trình đào tạo thí điểm của ĐHQGHN. Những chương trình thí điểm khác như cử nhân Kế toán, phân tích và kiểm toán, thạc sỹ về pháp luật về quyền con người, thạc sỹ khoa học quản lý, thạc sỹ biến đổi khí hậu, thạc sỹ môi trường và phát triển bền vững,…đều là những ngành “hay”, có sức thu hút và nhu cầu xã hội cao. Chính vì vậy, nhận định các chương trình đào tạo thí điểm như những “đặc sản” trong đào tạo của ĐHQGHN là có cơ sở. Nhưng tôi cũng nhấn mạnh là các chương trình đào tạo thí điểm chỉ là một trong những “đặc sản”, vì bên cạnh đó, ĐHQGHN còn có những  “đặc sản” khác trong đào tạo như hệ cử nhân khoa học tài năng, các chương trình nhiệm vụ chiến lược, hệ trung học phổ thông chuyên với truyền thống vẻ vang và mới đây là bằng kép. Trong đại học đa ngành, đa lĩnh vực và có tính liên thông cao, thì bằng kép (trong vòng tối đa 6 năm, người học có thể học song song 2 chương trình để nhận được 2 bằng đại học chính quy nếu đáp ứng các điều kiện theo Quy chế) cũng là một cơ hội tốt cho người học. Hoặc những mô hình đào tạo mới như mô hình 3+1 (cử nhân của ĐH giáo dục), 3+2 (Khoa Y-Dược) cũng là những sáng tạo và thành công, những “đặc sản” trong đào tạo của ĐHQGHN.

PV: Thưa GS, để ĐHQGHN mở và triển khai thành công các chương trình đào tạo thí điểm, phải đáp ứng những điều kiện gì?

Trước hết, nhân tố quan trọng và căn bản nhất là ĐHQGHN phát triển theo mô hình đại học nghiên cứu tiên tiến. Nghiên cứu khoa học luôn gắn kết chặt chẽ với đào tạo. Đào tạo thông qua nghiên cứu và nghiên cứu khoa học để tiếp cận đỉnh cao của trí thức, từ đó quay trở lại đào tạo với chất lượng cao, trình độ cao. Khi nghiên cứu đã đủ mạnh, đủ tích lũy về nhân lực, về kết quả nghiên cứu, cơ sở vật chất và các nguồn lực khác, mới có điều kiện đầy đủ để xây dựng và triển khai các chương trình đào tạo mới có chất lượng. Vì vậy, các chương trình thí điểm vừa là thành quả, vừa là nhu cầu tất yếu trong quá trình vận động, phát triển và hội nhập của một đại học nghiên cứu.

Các trường đại học nghiên cứu cũng thường là nơi nảy sinh các tư tưởng, hệ tiên đề, từ đó thiết lập nên những nền móng căn bản của các ngành, chuyên ngành, trường phái khoa học. Chính vì vậy, các đại học nghiên cứu tiên tiến có vai trò nòng cột trong hệ thống giáo dục đại học của mỗi quốc gia và tiên phong trong việc định hướng mở các chương trình đào tạo mới, hiện đại.

Hai là ĐHQGHN có thuận lợi là đại học đa ngành, đa lĩnh vực, có tính liên thông cao, có đầy đủ các ngành và lĩnh vực từ khoa học tự nhiên, kỹ thuật công nghệ, xã hội nhân văn, kinh tế, luật và ngoại ngữ trong ĐHQGHN. Không có sự thuận lợi này, ĐHQGHN khó có điều kiện triển khai nhiều chương trình thí điểm. Chẳng hạn như tham gia giảng dạy và đào tạo cho học viên trong chương trình biến đổi khí hậu có các chuyên gia về địa lý tự nhiên, địa chất của Đại học Khoa học Tự nhiên, về môi trường và đa dạng sinh học của Trung tâm nghiên cứu về Tài nguyên và Môi trường, về luật của các chuyên gia đến từ Khoa Luật, về khu vực học của trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,…

Sinh viên đang tra cứu tài liệu tại thư viện ĐHQGHN

Và tất nhiên, phải đáp ứng đầy đủ các quy định về mở ngành, chuyên ngành mới theo quy định của Bộ giáo dục Đào tạo và của ĐHQGHN, các điều kiện đảm chất lượng như số lượng và chất lượng nguồn nhân lực cơ hữu, cơ sở vật chất, học liệu, các định hướng, đề tài nghiên cứu có thể hướng dẫn luận văn luận án,…

Bên cạnh đó, sứ mệnh của ĐHQGHN là tiên phong đổi mới trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam, vì vậy đứng trước nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao để phục vụ nghiên cứu, phục vụ quản lý và góp phần phát triển kinh tế xã hội và an ninh quốc phòng và hội nhập, ĐHQGHN huy động tối đa lực lượng các nhà khoa học, chủ động nghiên cứu đề xuất những chương trình đào tạo mới, hiện đại. Những chương trình như Vật liệu và linh kiện nano, Khoa học quản lý, Biến đổi khí hậu, Quản trị An ninh phi truyền thống… là những chương trình như vậy.

PV: Thưa GS, GS đánh giá thế nào về triển vọng mở các ngành, chuyên ngành thí điểm của ĐHQGHN trong thời gian tới?

Một số ngành, chuyên ngành đào tạo thí điểm đã có kết quả và chất lượng đào tạo tốt, ổn định, ĐHQGHN đã có văn bản đề nghị và chắc chắn Bộ giáo dục và Đào tạo sẽ xem xét đưa một số ngành, chuyên ngành thí điểm của ĐHQGHN vào danh mục đào tạo của Nhà nước, và ĐHQGHN hoàn thành sứ mệnh tiên phong của mình trong việc mở những ngành, chuyên ngành mới này.

Việc mở các ngành, chuyên ngành mới thí điểm vừa là sứ mệnh, vừa là nhu cầu tất yếu của những đại học nghiên cứu tiên tiến, đa ngành, đa lĩnh vực như ĐHQGHN trong quá trình phát triển không ngừng và hội nhập. Mới đây, ĐHQGHN đã công bố quy hoạch ngành, chuyên ngành đào tạo đến 2020. Theo đó đến năm 2020 danh mục các ngành , chuyên ngành đào tạo thí điểm của ĐHQGHN sẽ có thêm 9 ngành đào tạo đại học, 32 chuyên ngành thạc sỹ và 16 chuyên ngành đào tạo tiến sỹ.

PV: Thưa GS, trong thời gian vừa qua ĐHQGHN đã triển khai những giải pháp cụ thể gì để không ngừng nâng cao chất lượng các chương trình đào tạo thí điểm nói riêng và chất lượng đào tạo nói chung?

Theo quy định, sau 2 khóa đào tạo thí điểm, các chương trình thí điểm đều phải tổ chức tổng kết đánh giá kết quả đã đạt được, rút ra những bài học và kinh nghiệm, hoàn thiện chương trình, rà soát các điều kiện đảm bảo chất lượng. Lần này là lần ĐHQGHN tổ chức hội nghị tổng kết đánh giá tổng thể, toàn diện các chương trình thí điểm cấp ĐHQGHN.

ĐHQGHN là đại học nghiên cứu, nên muốn nâng cao chất lượng đào tạo, trước hết phải nâng cao chất lượng của đội ngũ. Hiện nay 45% đội ngũ giảng viên đã có trình độ tiến sỹ, 23% có học hàm GS, PGS. Nhiều đơn vị như trường ĐH Khoa học Tự nhiên và ĐH Công nghệ, tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sỹ đã trên 70%. ĐHQGHN đang xây dựng Đề án phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, rà soát, đánh giá và phân loại cán bộ giảng dạy, nghiên cứu và quản lý thông qua các tiêu chí, trên cơ sở đó quy hoạch và có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng.

Sinh viên của ĐHQGHN

Năm 2012-2013, ĐHQGHN đã hoàn thành khối lượng công việc khổng lồ, chuyển đổi toàn bộ trên 300 chương trình đào tạo đại học, sau đại theo chuẩn đầu ra. Và tiếp theo đã chỉ đạo các đơn vị đang triển khai xây dựng chuẩn đầu ra của các môn học trong chương trình đào tạo (với số lượng chương trình đào tạo như vậy, số lượng các môn học lên đến hàng vài nghìn, một khối lượng công việc không nhỏ). Công việc này cũng sẽ được hoàn tất trước tháng 8.2014.

Muốn hội nhập phải kiểm định chất lượng. Hầu hết các đơn vị đào tạo của ĐHQGHN đều đã được kiểm định và đánh giá chất lượng theo tiêu chí kiểm định của ĐHQGHN và thực hiện các quy định về kiểm định chất lượng của Bộ giáo dục và Đào tạo. Giám đốc ĐHQGHN cũng đã phê duyệt Kế hoạch kiểm định chất lượng các chương trình đào tạo của ĐHQGHN, theo đó, ĐHQGHN đang từng bước kiểm định các chương trình đào tạo. Với các chương trình tiên tiến, nhiệm vụ chiến lược đã và đang tiến hành kiểm định theo chuẩn AUN (kiểm định khu vực châu Á).

Cũng từ năm 2013 đến nay, Giám đốc ĐHQGHN đã phê duyệt đề án tăng cường kỷ cương, giám sát trong hoạt động đào tạo, tiến hành kiểm tra, rà soát tất cả các khâu từ tuyển sinh, quản lý tổ chức đào tạo cho đến cấp bằng, qua đó kịp thời phát hiện những thiếu sót trong thực hiện và trong các văn bản hướng dẫn, quy định, để kịp thời điều chỉnh, nâng cao hiệu quả công tác quản lý và điều hành trong đào tạo. Trong 2013, ĐHQGHN ban hành các hướng dẫn về giảng dạy các môn học ngoại ngữ bậc sau đại học, sửa đổi quy định về đào tạo nhiệm vụ chiến lược (chuẩn quốc tế) và ban hành mới quy định về các hoạt động liên kết đào tạo quốc tế. Trọng tâm từ năm 2014 là đẩy mạnh và phát triển mô hình đào tạo cử nhân, kỹ sư tài năng và đặc biệt là nâng cao hiệu quả và chất lượng đào tạo bậc sau đại học.

ĐHQGHN đã bắt đầu áp dụng thí điểm đổi mới tuyển sinh theo đánh giá năng lực thành công cho bậc sạu đại học từ năm 2011 (bậc thạc sỹ, thí điểm cho 3 chuyên ngành: Biến đổi khí hậu, Quản trị công nghệ và phát triển doanh nghiệp, Môi trường và phát triển bền vững) và hiện nay đang hoàn thiện bộ đề thi đánh giá năng lực để áp dụng cho các hệ đặc biệt ở bậc đại học (tuyển hệ tài năng, chất lượng cao, chương trình tiên tiến, nhiệm vụ chiến lược sau khi đã thi kỳ thi 3 chung và trúng tuyển vào ĐHQGHN), và mở rộng áp dụng thí điểm cho bậc sau đại học ở tất cả các đơn vị (mỗi đơn vị tối thiểu thí điểm một chuyên ngành thạc sỹ). Ban Đào tạo cũng đang khẩn trương phối hợp với các đơn vị để hoàn thành các hướng dẫn, các giải pháp kỹ thuật và triển khai xây dựng phần mềm phục vụ công tác đổi mới tuyển sinh trong năm 2014.

Bên cạnh đào tạo kiến thức, ĐHQGHN quan tâm đến đào tạo ngoại ngữ, kỹ năng tin học và các kỹ năng mềm cho sinh viên. Từ năm 2012, sinh viên ĐHQGHN được đào tạo kỹ năng mềm. Khi ra trường tối thiểu có 5 kỹ năng mềm (do các em lựa chọn trong 100 kỹ năng được định dạng) được đào tạo, kiểm tra đánh giá. Tất cả được công bố trong chuẩn đầu ra của các chương trình đào tạo.

Bên cạnh đó, Giám đốc ĐHQGHN quan tâm đầu tư đến học liệu, cơ sở vật chất, các phòng thí ngiệm, triển khai dự án “E-book” (Thư viện ĐHQGHN) và Dự án sách chất lượng cao (Nhà Xuất bản ĐHQGHN); triển khai Đề án tăng cường khả năng có việc làm cho sinh viên tốt nghiệp (của Trung tâm phát triển nguồn nhân lực). Dự án này sẽ điều tra phản hồi của các nhà tuyển dụng, các cựu sinh viên, các nhà quản lý, doanh nghiệp,… để điều chỉnh chương trình đào tạo, tăng cường đào tạo kỹ năng và khả năng thực hành cho sinh viên, thiết lập hệ thống liên hệ với các cựu sinh viên, từ đó, nâng cao cơ hội có việc làm cho sinh viên sau khi tốt nghiệp.

Không chỉ trang bị kiến thức, sự khác biệt trong đào tạo của ĐHQGHN là chú trọng phát triển tầm nhìn cho người học. Quan điểm xuyên suốt là đào tạo không chỉ để người học ra trường có việc làm, để khởi nghiệp, mà còn có đầy đủ kiến thức, năng lực, phẩm chất, phương pháp tư duy và bản lĩnh để sáng nghiệp.

Chỉ tính từ năm 2008 đến nay, ĐHQGHN đã cấp bằng cho 12.334 thạc sỹ (và đang đào tạo trên 11.000 học viên cao học), 423 tiến sỹ (và đang đào tạo 1.180 NCS);  xuất bản bổ sung trên 500 sách chuyên khảo, giáo trình; đăng tải hơn 1.000 bài báo trên các tạp chí quốc tế, hơn 3.000 bài báo trên các tạp chí khoa học trong nước; 1.500 báo cáo tại các hội nghị khoa học quốc tế, 2.000 báo cáo tại các hội nghị khoa học trong nước; thực hiện trên 500 đề tài KH&CN các loạị. Việc gắn đào tạo với nghiên cứu vừa là truyền thống, vừa là nhân tố quan trọng đảm bảo chất lượng đào tạo ở ĐHQGHN.

Xin nhấn mạnh là theo thống kê từ năm 2012 đến nay, khoảng 50% số NCS của các ngành KHTN-CN của ĐHQGHN khi bảo vệ luận án tiến sỹ đều có bài đăng trên các tạp chí quốc tế. Cá biệt từ năm 2011 đến nay, liên tục năm nào cũng có sinh viên của ĐHQGHN có bài công bố trên các tạp chí quốc tế ISI. Không phải ngẫu nhiên từ Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, GS Ngô Bảo Châu,….cho đến Lê Anh Xuân, Nguyễn Văn Thạc,….và nhiều tên tuổi khác của Việt Nam đều nguyên là sinh viên các hệ đào tạo khác nhau, là cựu sinh viên của ĐH Tổng hợp Hà Nội trước kia và nay là ĐHQGHN. Tôi tin tưởng chắc chắn với những giải pháp cụ thể và đúng, trúng như vậy, chắc chắn hoạt động đào tạo của ĐHQGHN sẽ ngày càng được khẳng định và gặt hái được nhiều thành công và kết quả tốt đẹp hơn nữa.

4.2014 Theo VNU News

GS Nguyễn Đình Đức: “Để đào tạo tiến sĩ có chất lượng đòi hỏi người thầy phải có trình độ cao, phải khắt khe”

Thứ hai, 28/11/2016, 14:56 (GMT+7)

Bội thực tiến sĩ (TS), chất lượng luận án TS ở các cơ sở đào tạo không đồng đều và có thể vàng thau lẫn lộn. Nhiều luận án ít giá trị thực tế, không có tính khoa học, như một báo cáo tổng kết, nhưng nghiên cứu sinh (NCS) vẫn được cấp bằng TS…

Lễ trao bằng TS tại Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội

Đó là những vấn đề mà lâu nay dư luận đặt ra rất bức xúc.  Trước tình hình này, Bộ Giáo dục – Đào tạo (GD-ĐT) đang tiến hành sửa đổi, bổ sung quy chế về đào tạo TS.

Chạy theo số lượng

Nói về tình trạng “bội thực” TS hiện nay, Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Bùi Văn Ga cho biết, có những cơ sở đào tạo TS chạy theo số lượng mà buông lỏng chất lượng. Thực tế, NCS TS là các nhà nghiên cứu, sản sinh ra tri thức, trí tuệ mới; tuy nhiên, nhiều NCS không xác định rõ động cơ, mục tiêu, không xác định rõ tầm mức hoạt động nghiên cứu của bậc đào tạo TS, vì thế không có những đề tài chất lượng, không tiếp cận được chuẩn thế giới. Cùng với đó, quy chế đào tạo TS chưa được thực hiện nghiêm do còn nhiều “du di”. Đầu tư nhà nước cho đào tạo TS còn quá thấp – thấp nhiều lần so với mức trung bình của thế giới. GS-TSKH Trần Văn Nhung, Tổng Thư ký Hội đồng chức danh GS Nhà nước, cho rằng chưa có một nước nào mà kinh phí 15 triệu đồng/NCS/năm, nên“tiền nào của nấy”!

GS Nguyễn Đình Đức, Trưởng ban Đào tạo Đại học Quốc gia (ĐHQG) Hà Nội, cho rằng những lý do mà Thứ trưởng Bùi Văn Ga đưa ra đều đúng. Nhưng bên cạnh đó còn lý do khác. Đó là do chất lượng đầu vào ngày càng thấp. “Năm 1976, Việt Nam lần đầu tiên đào tạo phó TS trong nước là Hoàng Hữu Đường. 6 năm sau, Hoàng Hữu Đường lại là người đầu tiên bảo vệ TS khoa học trong nước. Điều kiện khó khăn là thế, nhưng chất lượng TS rất tốt, không có ai kêu ca. Đó là vì chất lượng đầu vào tốt, 30 – 40 người thi, chỉ có 2 – 3 người đậu; trong quá trình đào tạo, mỗi người phải thi 3 chuyên đề nên phải học rất chắc chắn. Ngoài kết quả thông qua chất lượng của luận án, hội đồng còn xem xét người đó có xứng đáng không mới trao quyết định công nhận, nên có khi phải mất 5 – 7 năm mới đào tạo được một TS”, GS Nguyện Đình Đức thẳng thắn đánh giá. Theo ông, vấn đề hiện nay của đào tạo TS là quy mô đào tạo quá nhiều, chất lượng và trách nhiệm của giáo viên hướng dẫn chưa đảm bảo, trong khi lẽ ra người thầy phải có trình độ cao, phải khắt khe.

Nâng tiêu chuẩn nghiên cứu sinh

PGS-TS Vũ Lan Anh, Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Luật Hà Nội,  cho rằng để nâng tầm chất lượng đào tạo TS bảo đảm yêu cầu hội nhập quốc tế thì yếu tố thứ nhất là điều kiện tuyển sinh. “NCS TS phải có tố chất nghiên cứu khoa học và trình độ ngoại ngữ. Có tố chất hay không căn cứ vào các công trình khoa học của NCS. Ngoại ngữ là rất cần thiết, vì vững ngoại ngữ thì NCS mới có điều kiện tham khảo, đọc tài liệu nước ngoài, tham gia môi trường học thuật thế giới”, bà Lan Anh nêu. Còn theo GS Trần Văn Nhung, phải định nghĩa được khái niệm TS theo chuẩn quốc tế, ví dụ lĩnh vực khoa học, công nghệ nhất thiết phải có phát minh; lĩnh vực xã hội nhân văn phải có các bài báo bằng tiếng nước ngoài đăng ở tạp chí thế giới  ISI. Đào tạo TS không cần nhiều, mà phải có chất lượng. Cùng với đó, những quy định về bổ nhiệm không cần chạy theo bằng TS, không nhất thiết yêu cầu vị trí này vị trí kia phải có bằng TS vì như thế chỉ khiến chạy đua học TS. Ngoài ra, cần có quy định chặt chẽ “ai là phản biện, ai nằm trong hội đồng” với những tiêu chuẩn đi kèm không thể thấp được.

Từ thực tế này, dự thảo quy chế đào tạo TS mới đang được Bộ GD-ĐT hoàn chỉnh và công bố với nhiều điểm mới, theo hướng nâng chuẩn của NCS, trách nhiệm của hội đồng chấm luận án, của người hướng dẫn. Theo bà Nguyễn Thị Kim Phụng, Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học, quy chế hiện hành quy định ngoại ngữ bắt buộc ở đầu ra, nhưng quy chế mới bắt buộc ngoại ngữ phải đạt chuẩn nhất định ngay từ đầu vào. NCS phải có trình độ ngoại ngữ cần thiết để nghiên cứu, tham khảo tài liệu. Mặt khác, quy chế mới cũng đòi hỏi NCS phải chứng minh được năng lực ban đầu về nghiên cứu khoa học của mình thông qua những công trình đã công bố trong nước và quốc tế. Ngoài ra, để đảm bảo đầu ra, quy chế cũng yêu cầu NCS phải có công bố quốc tế trên các tạp chí khoa học chuyên ngành có phản biện, hoặc công bố công trình trên các kỷ yếu hội thảo quốc tế có phản biện trong quá trình làm NCS sinh tại cơ sở đào tạo và trước thời điểm luận án được thông qua ở đơn vị chuyên môn. Tương tự, quy chế mới quy định người hướng dẫn phải là người chủ trì các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở, hoặc tham gia nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp bộ trở lên, là tác giả hoặc đồng tác giả của các công trình công bố quốc tế thuộc lĩnh vực nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án của NCS. Đó còn phải là cán bộ cơ hữu của cơ sở đào tạo… Đặc biệt, thời gian đào tạo TS được kéo dài  hơn, tối thiểu là 3 năm (thay vì 2 năm như trước đây).

Cũng theo bà Phụng, đào tạo TS là bậc đào tạo cao nhất trong giáo dục ĐH, là đào tạo những nhà nghiên cứu, vì vậy phải chuẩn từ chất lượng đầu vào, đảm bảo cơ chế thải loại trong quá trình đào tạo và đạt chuẩn chất lượng đầu ra. “Chúng ta chấp nhận có thể giảm quy mô để tập trung vào chất lượng, đào tạo TS chỉ dành cho những người thực tài, thực lực, có mục tiêu học tập rõ ràng”,  Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học khẳng định.

28.11.2016  Theo SGGP

Biologie unterrichten planen, durchfhren, reflektieren berlegungen zum aufbau anschlussfhigen wissens durch eine https://www.schreib-essay.com/bachelorarbeit/ alternative betrachtung der berwinterung gleichwarmer tiere.

Phạm Hồng Công – Học trò của GS. Nguyễn Đình Đức, Chàng trai 25 tuổi ‘made in Vietnam’ với 17 bài báo quốc tế

10:49 AM – 09/11/2016

Hoàn toàn được đào tạo trong nước, chưa bao giờ được ra nước ngoài dự một sinh hoạt khoa học nào, đang là nghiên cứu sinh mới bước vào năm thứ ba, nhưng Phạm Hồng Công đã có 17 bài báo quốc tế.

Con đường đến với khoa học của chàng trai mồ côi cha
Công sinh ra và lớn lên ở Trung Mỹ, một xã miền núi của huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. Chỉ cách thị xã Vĩnh Yên khoảng hơn 10 km thôi mà dường như đã bước sang một thế giới khác. Người dân phần lớn là bà con dân tộc (quá nửa là người Sán Dìu). Đời sống kinh tế xã hội khó khăn (cách đây dăm năm, xã còn thuộc diện xã 135).
Gia cảnh nhà Công thì đỡ hơn nhờ có đồng lương giáo viên tiểu học của mẹ. Tuy nhiên, do bố mất khi mới em học lớp 4 nên để nuôi được Công và chị gái ăn học đến nơi đến chốn, mẹ Công đã phải chịu vô vàn nhọc nhằn. Thương mẹ, và thấm thía phận nghèo của người dân vùng quê lam lũ, Công xác định mình chỉ còn một con đường học giỏi để “thoát ly”.
Rất may, chị gái học giỏi nên Công chỉ việc nhìn vào tấm gương của chị để học tập. Thi đại học cũng là do chị gái “định hướng”, chị học sư phạm (Trường ĐH Sư phạm Hà Nội) thì em học trường công nghệ gần đó (Trường ĐH Công nghệ – ĐH Quốc gia Hà Nội) để tiện bề qua lại, chăm sóc, bảo ban nhau. Hai chị em cùng ở ký túc xá của trường.
Hóa ra lại hay, vì nhờ môi trường đó mà Công hòa nhập đời sống sinh viên rất tốt. Em còn hăng hái tham gia các hoạt động phong trào của sinh viên tại ký túc xá, cộng với thành tích học tập xuất sắc nên được vào Đảng khi là sinh viên năm cuối.
Vào trường với điểm thi đầu vào khá cao (25 điểm), thành tích học tập luôn luôn dẫn đầu nên gần như năm nào, Công cũng được học bổng. Điều này không chỉ khích lệ Công mà còn giúp em cải thiện cuộc sống, tạo điều kiện cho Công có thể chuyên tâm học hành. Cơ may đến khi Công được học thầy Nguyễn Đình Đức, một trong những nhà khoa học uy tín của Việt Nam trong lĩnh vực Cơ học và vật liệu composite, bắt đầu giao cho làm các bài tập lớn. “Hồi ấy vào khoảng cuối năm thứ 2. Thầy vào lớp hỏi, ai học giỏi toán nhất, các bạn chỉ vào em. Thầy lại hỏi, ai được điểm trung bình môn cao nhất, các bạn lại chỉ vào em. Vậy là em được chọn”, Công nhớ lại.
Không chỉ Công là sinh viên duy nhất được thầy “chọn”. Ban đầu, cùng nhóm được thầy giao làm thêm bài tập lớn với Công còn có khoảng 5 – 6 bạn, nhưng chỉ duy nhất mỗi mình Công “trụ” lại được, từ đó giúp Công đến với các công trình đẳng cấp được làm chung cùng thầy, mà khởi đầu là bài báo đầu tiên được đăng trên một tạp chí ISI (ISI là tên gọi những tạp chí khoa học quốc tế có uy tín), khi Công đang là sinh viên năm thứ 3.
“Ngay cả khi bắt đầu theo thầy Đức tập tành nghiên cứu thì với sinh viên chúng em, bài báo quốc tế là một khái niệm xa vời. Vì vậy khi thầy thông báo bài đã được đăng thì em rất xúc động, tự hào. Nó cũng là đốm lửa nhen lên trong em niềm hy vọng về một tương lai tốt đẹp, nếu mình cứ tiếp tục theo đuổi con đường nghiên cứu khoa học”, Công chia sẻ.
Pham-Hong-Cong
Phạm Hồng Công (trái) và GS Nguyễn Đình Đức
17 bài báo tạp chí ISI
Riêng trong thời sinh viên, Công được đứng tên cùng thầy trong 5 bài báo quốc tế. Ngoài ra em còn có một giải nhất giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học của ĐH Quốc gia Hà Nội tặng. Thành tích này là điểm cộng trong hồ sơ (cùng với hai yếu tố khác là tốt nghiệp đại học bằng xuất sắc, có công trình trên tạp chí ISI) giúp Công được phép làm thẳng nghiên cứu sinh mà không phải học qua thạc sĩ.
Sau hơn 2 năm làm nghiên cứu sinh do chính GS Nguyễn Đình Đức trực tiếp hướng dẫn, Công tiếp tục có thêm 12 bài báo được công bố quốc tế nữa. Hiện nay bài thứ 18 của Công đã qua được nhiều vòng phản biện và sắp được đăng.
Công cho biết: “Bí quyết của em là chăm chỉ, làm việc rất tập trung, và kiên trì. Khi mới bước vào cuộc đời sinh viên, em cũng như nhiều bạn trẻ Việt Nam khác là khả năng tự học rất kém. Nhưng cách học ở ĐH buộc em phải thay đổi. Em chủ động tìm tài liệu đọc, chủ yếu là tài liệu tiếng Anh. Hồi đó tiếng Anh của em rất kém, nhưng em vẫn tự đọc tự dịch thông qua sự hỗ trợ của từ điển. Đọc nhiều thì không chỉ kiến thức của mình được mở rộng ra mà vốn từ vựng tiếng Anh khá hơn hẳn”.
Theo Công, may mắn lớn nhất của em là được “gặp thầy” Nguyễn Đình Đức, được tham gia nghiên cứu trong phòng thí nghiệm Vật liệu và kết cấu tiên tiến của thầy, một môi trường nghiên cứu khoa học tốt bậc nhất trong nước. Công nói: “Em rất tự hào vì thầy em rất giỏi. Thầy đã lập được một nhóm nghiên cứu mạnh, tạo dựng được một phòng thí nghiệm mà tại đó đã thu hút nhiều tiến sĩ trẻ, giỏi đến từ nhiều trường ĐH khác nhau ở trong và ngoài nước. Qua thầy, em được gặp và học hỏi từ nhiều giáo sư đẳng cấp quốc tế trong lĩnh vực mà em theo đuổi đến từ các nước khác nhau”.
Tuy nhiên, theo Công, một thiệt thòi mà Công và các bạn trẻ đam mê khoa họcđang cùng phải chịu là cơ hội tham gia sinh hoạt khoa học với cộng đồng khoa học quốc tế (ví dụ như đi dự hội thảo) ở nước ngoài là gần như không có. “Dù các thầy đã tạo được một môi trường đào tạo tiến sĩ rất tốt ở ngay trong nước, các thầy cũng cố gắng mời bạn bè quốc tế đến hợp tác, trao đổi, để nghiên cứu sinh có được cơ hội tiếp xúc với các nhà khoa học quốc tế, nhưng dẫu sao thì “đi một ngày đàng học một sàng khôn”, việc đi ra ngoài không chỉ giúp chúng em mở rộng mối quan hệ với giới khoa học quốc tế mà còn mở rộng tầm nhìn cho chúng em”, Công tâm sự.
“Công rất thông minh, được đào tạo bài bản, lại cần cù và say mê, có hoài bão khát khao vươn lên đỉnh cao khoa học. Những điều đó đã giúp Công sớm thành công trong con đường nghiên cứu khoa học.
Nhưng trong số các học trò của tôi, trường hợp Công không phải là duy nhất. Có một bạn khóa trên (là Trần Quốc Quân, hiện đang đi trao đổi khoa học ở Anh) cũng rất xuất sắc. Nếu chúng ta tạo điều kiện tốt để các em chuyên tâm làm khoa học, tôi tin chắc cả Quân và Công đều có thể trở thànhgiáo sư khi tuổi đời còn trẻ và sẽ có những đóng góp xứng đáng cho ngành cơ học của Việt Nam.
Hoàn cảnh gia đình của các em đều khó khăn, điều kiện làm việc của thầy trò hầu như chưa có đầu tư gì, vậy mà các em say sưa làm việc nghiêm túc, kết quả nghiên cứu được như vậy, có thể nói còn hơn cả nghiên cứu sinh được đào tạo ở nước ngoài, là vô cùng đáng quý, đáng trân trọng”.
GS Nguyễn Đình Đức, Trưởng phòng thí nghiệm vật liệu và kết cấu tiên tiến, Trường ĐH Công nghệ – ĐH Quốc gia Hà Nội.

In the bottom-right corner, click create new custom written college papers site add.

GS Nguyễn Đình Đức: “Chưa có nước nào đào tạo tiến sĩ rẻ như Việt Nam”

10/11/2016  14:17 GMT+7

– Bộ GD-ĐT đang tiến hành sửa đổi, bổ sung quy chế đào tạo tiến sĩ nhằm nâng cao chất lượng của bậc đào tạo này. Thứ trưởng Bùi Văn Ga cho biết, quy chế mới sẽ được sửa đổi theo hướng đặt chất lượng lên hàng đầu, giảm quy mô số lượng đào tạo.

– Trong thời gian vừa qua, nhiều cơ sở đào tạo tiến sĩ chạy theo số lượng mà không để ý đến chất lượng, nhiều luận án tiến sĩ ít giá trị thực tế, không có tính khoa học. Xin ông cho biết quan điểm của Bộ GD-ĐT về hiện tượng này?

Thứ trưởng Bùi Văn Ga: Trước hết phải khẳng định trong điều kiện trong điều kiện cơ sở vật chất cũng như đầu tư như hiện nay các cơ sở giáo dục đào tạo được tiến sĩ là sự cố găng lớn, cần phải đánh giá cao.

Hầu hết cơ sở đào tạo tiến sĩ hiện nay chấp hành nghiêm quy chế. Tuy nhiên, vẫn có nơi có lúc cơ sở buông lỏng quản lý chất lượng, chạy theo số lượng dẫn đến có những luận án tiến sĩ không đảm bảo chất lượng, gây bức xúc trong xã hội.

'Chưa có nước nào đào tạo tiến sĩ rẻ như Việt Nam'

Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Bùi Văn Ga. Ảnh: Lê Văn

– Nguyên nhân của tình trạng vàng thau lẫn lộn trong đào tạo tiến sĩ thời gian qua là do đâu, thưa ông?

– Nguyên nhân đầu tiên là do nghiên cứu sinh (NCS) ko xác định rõ động cơ khi làm nghiên cứu sinh (NCS). NCS là đào tạo ra các nhà nghiên cứu với những trí tuệ mới chứ không phải đào tạo kỹ năng làm nghề. Nhiều NCS không xác định được rõ động cơ, mục tiêu này nên dẫn đến chất lượng không đảm bảo.

Nguyên nhân nữa là người hướng dẫn NCS do chất lượng chưa đồng đều nên quá trình hướng dẫn còn hạn chế, do hạn chế nên không tiếp cận được với học thuật thế giới.

Nguyên nhân tiếp theo là về phía cơ sở giáo dục đào tạo TS. Do chưa thực hiện nghiêm quy chế nên chất lượng bị buông lỏng, một số cơ sở hội đồng không đảm bảo yếu tố khách quan.

Nguyên nhân cuối cùng do nguồn lực đầu tư của nhà nước, kinh phí đào tạo của chúng ta quá thấp, không đủ để NCS thực hiện các nghiên cứu có chất lượng.

– Được biết, Bộ GD-ĐT đang tiến hành sửa đổi, bổ sung quy chế đào tạo tiến sĩ, xin ông cho biết, quy chế đào tạo tiến sĩ trong thời gian tới sẽ được điều chỉnh theo hướng nào?

Thủ tướng vừa ký ban hành Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân và Khung trình độ quốc gia. Khung cơ cấu hệ thống quy định rõ TS là nghiên cứu và thời gian đàoa tạo 3-4 năm. Khung trình độ tiêu chuẩn đầu ra tiến sĩ, được xây dựng theo khung tham chiếu ASEAN.

Hai khung trình độ này sẽ cơ sở để thực hiện sửa đổi trong quy chế đào tạo tiến sĩ cũng như thiết kế chương trình phù hợp.

Đẻ thỏa mãn các tiêu chí, NCS phải có tiêu chí đầu vào nhất định đòi hỏi cao hơn trước dây, trước hết là ngoại ngữ. Trước đây quy định ngoại ngữ là chuẩn đàu ra, giờ không phù hợp, mà phải quy định đầu vào, ngoại ngữ là công cụ cần thiết sử dụng vào nghiên cứu.

Công trình TS, luận án TS là công trình khoa học phải chứa đựng cái mới, phải đăng trên các tạp chí quốc tế để người ta bình luận, phản biện để thấy cái mới trong các luận án. Chúng ta muốn hội nhập quốc tế thì buộc phải công bố quốc tế.

Việc quy định người hướng dẫn để NCS thực hiện tốt vai trò nghiên cứu của mình thì định hướng nghiên cứu của các thầy rất quan trọng. Thầy phải đi trước, có hợp tác quốc tế mới định hướng hướng dẫn NCS thành công luận án của mình.

Để thực hiện mọi điều trên, vấn đề quy định kinh phí, chi phí đào tạo NCS cũng phải nâng lên.

Hiện chi phí 15 triệu/năm qua thấp, khó có thể đào tạo NCS bài bản. Mỗi lần nghiên cứu ra cái mới phải thí nghiệm thực hành, thực tập, buộc phải có có đầu tư nhất định. Nếu có ít ngân sách chúng ta tập trung đầu tư cho ít nghiên cứu sinh hơn, còn hơn đầu tư dàn trải.

Mục đích của việc sửa quy chế là nâng cao chất lượng, hạn chế số lượng trong điều kiện nguồn lực đầu tư có giới hạn hiện nay.

– Vậy làm thế nào để kiểm soát chỉ tiêu đào tạo tiến sĩ của các cơ sở để tăng chi phí đầu tư cho hoạt động đào tạo này, thưa ông?

– Chúng tôi mong muốn xây dựng điều kiện tiếp nhận NCS. Chẳng hạn, tuyển NCS thì không tuyển theo đợt nữa mà tuyển khi trường có đề tài nghiên cứu, có tiền. Các trường có thể đăng tải thông báo tuyển NCS cho các đề tài cụ thể với điều kiện làm việc, mức đãi ngộ cụ thể để các NCS có thể nộp hồ sơ. Như vậy, thầy sẽ tìm được NCS giỏi để làm.

Hiện nay, nhiều người không có đề tài, không có tiền nhưng do yêu cầu của cơ sở nên hàng năm vẫn có chỉ tiêu tuyển sinh. Trường tuyển rồi giao cho các thầy. Quy định hiện hành cũng chỉ quy định số lượng NCS mà các PGS, GS được hướng dẫn chứ không quy định điều kiện nhận NCS cụ thể như thế nào. Chính vì thế, việc đào tạo tiến sĩ hiện nay mới nảy sinh nhiều bất cập.

Nên có định nghĩa rõ về tiến sĩ

Tại buổi tọa đàm nâng cao chất lượng đào tạo tiến sĩ do Bộ GD-ĐT phối hợp với báo Tuổi Trẻ TP.HCM tổ chức sáng 10/11, GS Trần Văn Nhung, Tổng thư ký Hội đồng chức danh giáo sư Nhà nước cho rằng, phải thể hiện rõ định nghĩa về tiến sĩ.

Theo GS Nhung, NCS khi bảo vệ bằng TS nhất định không thể không có cái gì mới, không có phát minh dù ở mức độ khác nhau.

Đồng tình với quan điểm này, GS Nguyễn Đình Đức, Trưởng ban Đào tạo, ĐHQG Hà Nội cho rằng, quy mô đào tạo tiến sĩ hiện nay quá nhiều. Trong Luật Giáo dục cũng chỉ quy định tiến sĩ phải hoàn thành bao nhiêu chuyên đề, bảo vệ luận án được hội thồng thông qua.

Theo GS Đức, Bộ nên cụ thể hóa thế nào là tiến sĩ, với các tiêu chí rành mạch hơn nữa sẽ thuận lợi cho các cơ sở đào tạo thực hiện.

Cần có điều kiện đào tạo tiến sĩ

Theo ý kiến các khách mời tại tọa đàm, nhất thiết cần đặt ra điều kiện cụ thể đối với việc đào tạo tiến sĩ, từ đầu vào NCS cho tới người hướng dẫn.

PGS.TS Vũ Lan Anh (Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Luật Hà Nội)cho rằng, có tuyển sinh được người giỏi thì mới đào tạo được tiến sĩ giỏi. Trong điều kiện tuyển sinh thì khả năng nghiên cứu và yếu tố ngoại ngữ là quan trọng nhất.

Theo bà Lan Anh, với quy định hiện nay về đầu vào ngoại ngữ thì không đủ để NCS có thể đọc được tài liệu nước ngoài.

“Nếu yêu cầu NN cao hơn, chất lượng đào tạo sẽ tốt hơn” – bà Lan Anh cho hay.

GS Nguyễn Đình Đức thì cho rằng, người thầy hướng dẫn cũng rất quan trọng trong đào tạo tiến sĩ. Đó phải là những người có trình độ và phải thực sự khắt khe, không được dễ dãi trong quá trình đạo tạo.

Theo ông Đức, đối với những người thầy giỏi cũng phải có chế độ đãi ngộ xứng đáng. Bằng chứng là những trường đại học ngoại công lập thu hút được nhiều người, nhiều công bố quốc tế nhờ chế độ đãi ngộ tốt. Trong khi đó, lương hướng dẫn NCS của PGS, GS chỉ 3 triệu/năm.

Chưa có nước nào đào tạo tiến sĩ rẻ như VN

GS Nguyễn Đình Đức cho rằng, việc nâng chuẩn đào tạo tiến sĩ cần phải có lộ trình để các cơ sở thích ứng. Chẳng hạn như các cơ sở đào tạo KHXH thì việc công bố quốc tế nhiều ngay sẽ rất khó.

Ông Đức cho rằng, mấu chốt trong vấn đề nâng cao chất lượng đào tạo tiến sĩ là vấn đề cơ sở vật chất và kinh phí.

Ông Đức cho biết, ở ĐHQGHN kinh phí cho đào tạo 1 NCS 1 năm chỉ 18 triệu đồng là quá thấp. Hiện tại, nhiều em giỏi đi học nước ngoài là không về nữa.

Do đó, NCS đi học phải được cơ quan trả tiền sau đó phải về phục vụ cho cơ quan. Trong khi đó, các trường cần được tháo gỡ trong cơ chế thu học phí cũng như đầu tư kinh phí.

GS Trần Văn Nhung cho rằng, chưa quốc gia nào đào tạo rẻ như vậy. Theo GS Nhung, ngoài việc chia sẻ với lo lắng của xã hội về chất lượng đào tạo tiến sĩ, Bộ GD-ĐT cùng các cơ sở đào tạo cũng phải có trách nhiệm giải thích rõ những bất cập hiện tại trong điều kiện đào tạo tiến sĩ, cần tăng cường đầu tư mạnh mẽ hơn cho bậc đào tạo này.

Theo Vietnamnet

From the menu on the right, click pages and then add page https://homework-writer.com/ add page.

GS Nguyễn Đình Đức: “Đào tạo tiến sĩ cần đi vào thực chất”

Thứ Hai, 14/11/2016, 02:32:36


Giờ thực hành của nghiên cứu sinh Trường đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội.

Những năm qua, quy mô đào tạo tiến sĩ (TS) ở nước ta ngày càng lớn, số người có học vị TS ngày càng nhiều. Tuy nhiên, chất lượng đào tạo cũng như trình độ, năng lực của một số TS không bảo đảm khiến dư luận xã hội băn khoăn, lo lắng. Điều này đòi hỏi cần siết chặt và có những quy định cụ thể trong tuyển sinh, đào tạo, thẩm định luận án TS nhằm tăng cường chất lượng đào tạo TS.

Trình độ chưa tương xứng học vị

Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD và ĐT) cho biết, hiện nay, cả nước đang triển khai đào tạo 971 ngành TS tại 158 cơ sở đào tạo trong đó có 114 trường đại học, 43 viện nghiên cứu và một trung tâm nghiên cứu thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội. Kết thúc năm học 2015-2016, quy mô của các cơ sở đào tạo trên cả nước là 13.598 nghiên cứu sinh. Tuy nhiên, thực tế cho thấy một số cơ sở đào tạo chỉ chạy theo số lượng, tỷ lệ nghiên cứu sinh/người hướng dẫn cao; tổ chức đào tạo các học phần bổ sung và các học phần của chương trình TS chủ yếu triển khai vào các ngày thứ bảy, chủ nhật hoặc vào các buổi tối trong tuần. Việc tổ chức cho nghiên cứu sinh báo cáo kết quả nghiên cứu theo tiến độ cũng như quản lý nghiên cứu sinh còn lỏng lẻo. Nhiều thầy hướng dẫn ít hoặc không có đề tài, dự án nghiên cứu để hỗ trợ nghiên cứu sinh làm luận án. Cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm nhiều cơ sở đào tạo lạc hậu, thư viện nghèo nàn, không đáp ứng được yêu cầu nghiên cứu và thực hiện luận án theo hình thức chính quy của nghiên cứu sinh. Trong khi đó, hội đồng chuyên môn các cấp vẫn có tình trạng nể nang, dễ dãi về học thuật, thông tin kém minh bạch, để xảy ra hiện tượng đạo văn, dẫn đến trình độ của người tốt nghiệp chưa tương xứng với học vị được cấp, gây nghi ngờ trong xã hội về công tác đào tạo TS. Mặt khác, trong đào tạo TS hiện nay, kinh phí đào tạo cho một nghiên cứu sinh chỉ 15 triệu đồng/năm (tương đương khoảng 700 USD, trong khi nghiên cứu sinh ở nước ngoài khoảng 15 nghìn USD/năm). Nhận thức xã hội về việc coi bằng TS là tiêu chuẩn để cất nhắc và bổ nhiệm các chức vụ quản lý của công chức ở nhiều cơ quan cũng ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo TS.

Ở góc độ thực tiễn cơ sở đào tạo, GS, TSKH Nguyễn Đình Đức, Trưởng Ban đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội nhìn nhận: Cách đây mấy chục năm, mặc dù khó khăn nhưng chất lượng đào tạo TS vẫn tốt vì chất lượng đầu vào tốt. Thời điểm đó, có 30 đến 40 người dự thi nhưng chỉ vài ba người đỗ. Trong quá trình đào tạo, mỗi người phải thi ba chuyên đề cho nên phải học rất chắc chắn. Quá trình đào tạo, ngoài kết quả thông qua chất lượng của luận án, hội đồng còn xem xét người đó có xứng đáng không mới trao quyết định công nhận; có khi phải mất từ năm đến bảy năm mới đào tạo được một TS. Trong khi đó hiện nay, nhiều TS có luận án bảo vệ rồi nhưng kiểm tra lại chất lượng thì không đạt do cơ sở quản lý lỏng lẻo, quy mô đào tạo quá lớn…

Trong giai đoạn từ đầu tháng 1-2014 đến hết tháng 4-2015, Bộ GD và ĐT đã thẩm định 185 luận án và 288 hồ sơ trong tổng số 1.387 nghiên cứu sinh đã bảo vệ luận án cho thấy có 21% số hồ sơ thẩm định cần bổ sung, rút kinh nghiệm, trong đó có một luận án bị đánh giá không đạt yêu cầu phải chỉnh sửa. Theo Thứ trưởng Bộ GD và ĐT Bùi Văn Ga, chất lượng đào tạo TS tại một số cơ sở chưa bảo đảm, đề tài nghiên cứu, không xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, kết quả nghiên cứu không có điểm mới…

Quan trọng nhất là khâu thẩm định luận án

Theo GS, TSKH Nguyễn Đình Đức, vấn đề đặt ra trong nâng cao chất lượng đào tạo TS là trách nhiệm của người hướng dẫn. Vì người hướng dẫn có trình độ, khắt khe trong công việc thì mới nâng cao chất lượng luận án TS. “Thẩm định luận án trong điều kiện hiện nay là cần thiết. Tại Đại học Quốc gia Hà Nội, có ngành phải thẩm định độc lập, có trường hợp một trong hai phản biện không đồng ý, cũng có trường hợp cả ba phản biện đều cho trượt. Có như vậy mới cảnh tỉnh người hướng dẫn và nghiên cứu sinh làm luận án bảo đảm chất lượng”. Đồng quan điểm, GS, TSKH Trần Văn Nhung, Tổng thư ký Hội đồng chức danh GS Nhà nước cho rằng: Một trong những yêu cầu đặt ra trong nâng cao chất lượng đào tạo TS là thẩm định luận án. Ở nhiều nước phát triển vẫn cần phải có phản biện kín cho nên ở nước ta cần duy trì phản biện kín nhưng chọn người thế nào phải thật khách quan và có giá trị.

Trong khi đó, một số chuyên gia giáo dục cho rằng, Bộ GD và ĐT cần rà soát, kiểm tra các điều kiện bảo đảm chất lượng tại các cơ sở đào tạo TS và kiên quyết đình chỉ đào tạo các ngành hoặc những cơ sở đã được cấp phép đào tạo TS nhưng không bảo đảm chất lượng. Cần đưa ra yêu cầu cao hơn về điều kiện ngoại ngữ ngay từ đầu vào. Có như vậy, nghiên cứu sinh mới có thể sử dụng công cụ này để thực hiện tốt hoạt động nghiên cứu, bảo đảm chất lượng luận án. PGS, TS Vũ Lan Anh, Phó Hiệu trưởng Trường đại học Luật Hà Nội nêu quan điểm: Cần có quy định cụ thể về điều kiện dự tuyển đầu vào trong đào tạo TS chặt chẽ hơn, nhất là bảo đảm yếu tố khả năng ngoại ngữ, khả năng nghiên cứu, căn cứ vào bài báo nghiên cứu, những gì nghiên cứu sinh đã làm trước khi đăng ký dự tuyển. Có tuyển được người giỏi thì quá trình đào tạo, nghiên cứu mới bảo đảm chất lượng.

Theo Bộ GD và ĐT, để nâng cao chất lượng đào tạo TS, cần tăng chi phí đào tạo bảo đảm tương đương với một số nước trong khu vực. Việc mở ngành đào tạo TS, tổ chức đào tạo và cấp bằng thời gian tới sẽ áp dụng theo các chuẩn khu vực và quốc tế, tăng hàm lượng khoa học (như tăng số lượng công bố quốc tế của thầy hướng dẫn và nghiên cứu sinh…). Xây dựng cơ chế để tạo điều kiện và khuyến khích các cơ sở đào tạo mời các nhà khoa học nước ngoài tham gia đào tạo TS trong nước. Hiện nay, Bộ GD và ĐT đang hoàn thiện phần mềm quản lý dữ liệu đào tạo TS trong toàn hệ thống và sẽ công khai để tăng cường giám sát của xã hội đối với chất lượng đào tạo. Mặt khác, Bộ cũng tạo điều kiện cho các cơ sở đào tạo phát huy tính tự chủ trên cơ sở điều kiện đặc thù của từng trường và từng ngành; tăng trách nhiệm giải trình, công khai thông tin minh bạch của cơ sở đào tạo với xã hội nhằm nâng cao chất lượng đào tạo TS.

Theo Báo Nhân Dân

Befunde https://hausarbeithilfe.com/ hausarbeit schreiben lassen kosten und berlegungen zur messung und frderung.

GS Nguyễn Đình Đức: Lần đầu tiên Việt Nam đào tạo Thạc sĩ Kỹ thuật hạ tầng theo chuẩn Nhật Bản

26.5.2016. Là một trong 6 chương trình thạc sĩ đầu tiên của Trường Đại học Việt Nhật, ĐHQGHN, chương trình Kỹ thuật hạ tầng có mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao theo chuẩn Nhật Bản với sự hỗ trợ lớn từ Chính phủ Việt Nam và Nhật Bản. Vậy chuyên ngành này được đào tạo như thế nào? Có điểm gì khác biệt so với các chương trình đào tạo (CTĐT) về Kỹ thuật hạ tầng hiện nay?

Hiện tại, chương trình thạc sĩ Kỹ thuật hạ tầng của ĐH Việt Nhật đang trong quá trình tuyển sinh và nhận được rất nhiều sự quan tâm. Chúng tôi đã trao đổi với GS. TSKH. Nguyễn Đình Đức, đồng chủ trì với GS. Kato Hironori từ ĐH Tokyo xây dựng và vận hành chương trình Kỹ thuật hạ tầng tại Trường ĐH Việt Nhật về vấn đề này.


GS.TSKH Nguyễn Đình Đức

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức

Thưa GS.TSKH.Nguyễn Đình Đức, GS có thể giới thiệu tổng quan về chương trình Kỹ thuật hạ tầng của trường ĐH Việt Nhật?

Chương trình đào tạo (CTĐT) thạc sĩ Kỹ thuật hạ tầng được xây dựng dựa trên sự chuyển giao chương trình, kinh nghiệm và công nghệ đào tạo của ĐH Tokyo, một trong những đại học hàng đầu Châu Á. Nội dung CTĐT được cập nhật các công nghệ tiên tiến, trọng tâm vào những lĩnh vực thế mạnh của Nhật Bản như: Thiết kế, thi công, ứng dụng công nghệ hiện đại vào công trình xây dựng, công trình giao thông, cầu, đường; Quy hoạch giao thông, đô thị; Bảo trì và duy tu các dự án cơ sở hạ tầng hướng đến phát triển bền vững; Quản lý các dự án; Ứng dụng vật liệu mới vào lĩnh vực giao thông và xây dựng dân dụng.

Hơn 50% giảng viên giảng dạy đến từ ĐH Tokyo và các đại học danh tiếng khác của Nhật Bản. Chương trình chú trọng nâng cao kỹ năng thực hành và kinh nghiệm thực tế của học viên qua các hoạt động thí nghiệm/ nghiên cứu tại phòng thí nghiệm hiện đại và kỳ thực tập 3 tháng tại Nhật.

Học phí khóa đầu tiên (2016-2018)của CTĐTlà 3.300 USD (tương đương 75 triệu đồng), chỉ khoảng 1/5 chi phí đào tạo thực tế, 4/5 chi phí còn lại sẽ được tài trợ bởi Chính phủ Nhật Bản và Việt Nam.

Chính phủ Nhật Bản và trường ĐH Việt Nhật đã quyết định cấp nhiều suất học bổng hỗ trợ học phí toàn phần và bán phần cho học viên chương trình thạc sĩ Kỹ thuật hạ tầng.Tối thiểu 50% số học viên của CTĐT sẽ được cấp học bổng trị giá 5.000 USD cho kỳ thực tập 3 tháng tại Nhật Bản. Thông tin về học bổng và các hỗ trợ khác được đăng tải cụ thể trên Website và Facebook của trường ĐH Việt Nhật.

Thưa GS, chương trình thạc sĩ Kỹ thuật hạ tầng của trường ĐH Việt Nhật so với các CTĐT trong cùng lĩnh vực của các trường ĐH khác có gì khác biệt?

Chương trình thạc sĩ Kỹ thuật hạ tầng của trường ĐH Việt Nhật được xây dựng từ chương trình gốc của ĐH Tokyo, có tích hợp các yêu cầu thực tiễn của doanh nghiệp Nhật Bản, Việt Nam và điểm mạnh của các CTĐT hàng đầu của Việt Nam, thế giới về Kỹ thuật hạ tầng. Chương trình có tính liên ngành cao với việc trang bị cho học viên tầm nhìn rộng của khoa học bền vững bên cạnh các kiến thức, kỹ năng chuyên ngành. Chịu trách nhiệm xây dựng và giảng dạy chương trình là các GS, chuyên gia đầu ngành của Nhật Bản và Việt Nam.

Điểm khác biệt tiếp theo là phương pháp đào tạo lấy người học làm trung tâm. Học viên trong chương trình được khuyến khích phát huy tối đa năng lực bản thân, chủ động tự lựa chọn định hướng nghiên cứu và phát triển chuyên sâu vào lĩnh vực mình quan tâm dưới sự hướng dẫn của giảng viên.

Một điểm khác biệt quan trọng nữa của chương trình là tính thực hành cao, các kiến thức được giảng dạy có thể áp dụng ngay vào thực tế. Các học phần của chương trình đều có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn thông qua các giờ thực hành, thực tập.

Từ các đặc điểm nêu trên, CTĐT thạc sĩ Kỹ thuật hạ tầng tại trường ĐH Việt Nhật có thể đáp ứng được nhiều đối tượng học viên và yêu cầu nhân lực của các doanh nghiệp trong và ngoài nước.

Thưa GS, các học viên theo học chương trình này được trang bị những kiến thức và kỹ năng gì? Đâu là những điểm mạnh của chương trình?

Nội dung CTĐT bao gồm các khối kiến thức từ cơ sở đến chuyên sâu. Các học phần của khối kiến thứcchung giúp học viên có cái nhìn bao quát của khoa học bền vững về xã hội và môi trường xung quanh. Khối kiến thức cơ sở giúp học viên tích lũy được các kiến thức và kỹ năng cốt lõi liên quan đến các lĩnh vực của Cơ sở hạ tầng (Civil Engineering).Từ những kiến thức nền tảng đó học viên có thể thực hiện các nghiên cứu chuyên sâu trong các lĩnh vực như kỹ thuật hạ tầng giao thông, kỹ thuật xây dựng đô thị và các công trình đặc biệt, quy hoạch đô thị, quản lý dự án,… và đặc biệt là xây dựng công trình giao thông vận tải (cầu, hầm, đường, quản lý dự án,…) là lĩnh vực hiện được đầu tư và phát triển mạnh tại Việt Nam. Hơn 40% vốn ODA từ Nhật Bản được đầu tư vào lĩnh vực này. Các điểm mạnh của chương trình được liệt kê dưới đây:

Một là sau khi tốt nghiệp, học viên đạt được các kiến thức và kỹ năng tương đương với yêu cầu đầu ra của các CTĐT thạc sĩ trong lĩnh vực Kỹ thuật hạ tầngtại ĐH Tokyo và các đại học Nhật Bản.

Hai là thông qua các học phần thực tập, thực tế và kỳ thực tập 03 tháng, học viên rèn luyện các kỹ năng phân tích, đánh giá vấn đề và có khả năng đề xuất giải pháp về kỹ thuật và công nghệ trong lĩnh vực Kỹ thuật hạ tầng. Học viên còn có năng lực tiếp nhận và chuyển giao các kỹ thuật tiên tiến và công nghệ mới từ Nhật Bản và thế giới phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Ba là học viên sẽ được học tập trong môi trường quốc tế với giảng viên, học viên Việt Nam, Nhật Bản và quốc tế. Chương trình được giảng dạy bằng tiếng Anh, học viên sẽ thực hiện luận văn dưới sự đồng hướng dẫn của GS Nhật Bản và Việt Nam. Qua đó học viêncó khả năng sử dụng tiếng Anh thành thạo trong giao tiếp và chuyên môn sau khi tốt nghiệp. Ngoài ngôn ngữ học tập và giảng dạy chính là tiếng Anh, học viên được học tập ngôn ngữ và văn hóa Nhật Bản,được tham gia các lớp ngoại khóa đào tạo các kỹ năng mềm.

GS có thể cho biết tình hình đào tạo chuyên ngành kỹ thuật hạ tầng ở Việt Nam hiện nay? Triển vọng nghề nghiệp của lĩnh vực này trong thời gian tới vàcơ hội việc làm cho học viên sau khi tốt nghiệp?

Sau gần 30 năm kể từ khi thực hiện chính sách Đổi Mới, Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển nhanh đòi hỏi phải đầu tư chiến lược vào Cơ sở hạ tầng như xa lộ, đường sắt, cảng biển, sân bay…; các công trình năng lực phức hợp như các nhà máy thủy điện, chạy than và khí đốt; các công trình đô thị, các công trình trên đất liền và biển, đảo.

Theo Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011 -2020 của Chính Phủ, nhân lực khối ngành xây dựng sẽ tăng từ 2,9 triệu người năm 2010 lên khoảng 5 triệu vào năm 2015, khoảng 8 – 9 triệu người vào năm 2020. Nhu cầu nhân lực được đào tạo trình độ cao đẳng, đại học sẽ tăng dần lên với bậc cao đẳng chiếm khoảng 2% năm 2015, khoảng 3% năm 2020, bậc đại học và trên đại học chiếm khoảng 4,5% năm 2015 và khoảng 5% năm 2020.

Để đáp ứng nguồn nhân lực trong lĩnh vực Cơ sở hạ tầng, nhiều trường đại học trong nước đã và đang đào tạo các ngành truyền thống như: Kỹ thuật Xây dựng Dân dụng & Công nghiệp, Kỹ thuật Xây dựng Công trình Giao thông, Kỹ thuật Xây dựng Công trình Thủy lợi,… và gần đây nhất là ngành Kỹ thuật hạ tầng của trường ĐH Việt Nhật.

Mặc dù đã có nhiều trường đại học đào tạo kỹ sư và các chuyên gia ngành Cơ sở hạ tầng, nhưng có thể nhận định rằng nhu cầu nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực chất lượng cao nói riêng cho lĩnh vực này ở Việt Nam còn rất lớn, thậm chí sẽ tăng mạnh trong thời gian tới.

Bên cạnh việc tích lũy được kiến thức và kỹ năng chuyên môn, học viên của chương trình được rèn luyện trong môi trường học tập quốc tế, đa văn hóa. Do đó sau khi tốt nghiệp, học viên thích hợp với nhiều môi trường làm việc khác nhau, có cơ hội làm việc trong các doanh nghiệp trong và ngoài nước, đặc biệt là các doanh nghiệp Nhật Bản.

Những học viên có năng lực nghiên cứu tốt có thể học tiếp các CTĐTtiến sĩtrong và ngoài nước, đặc biệt là có cơ hội nhậnhọc bổng nghiên cứu sinh tại các trường ĐH đối tác Nhật Bản.

Xin trân trọng cám ơn GS!

26.5.2016  Theo Dantri

To confirm that your site published correctly, visit your https://eduessayhelper.org/ site’s url 7- allow others edit access to your site open a site in google sites.

GS Nguyễn Đình Đức: “Dùng bài thi đánh giá năng lực cho một kỳ thi chung”

26.8.2014. “Phương án tuyển sinh bằng bài thi đánh giá năng lực của ĐH Quốc gia Hà Nội có thể sử dụng hiệu quả cho một kỳ thi quốc gia chung”, GS Nguyễn Đình Đức, Trưởng ban Đào tạo ĐH Quốc gia Hà Nội khẳng định.

Nguyen-Dinh-Duc-6031-1408972528.jpg

GS Nguyễn Đình Đức, trưởng ban Đào tạo ĐH Quốc gia Hà Nội.

– ĐH Quốc gia Hà Nội vừa công bố phương án đổi mới tuyển sinh đại học, góp ý cho một kỳ thi quốc gia chung bằng các bài thi đánh giá năng lực. Vậy bài thi sẽ được thiết kế như thế nào, thưa ông?

– Sau khi nghiên cứu kỹ phương án tuyển sinh của các nước tiên tiến trên thế giới, ĐH Quốc gia Hà Nội lựa chọn đổi mới tuyển sinh theo hình thức tương tự Mỹ, có cân nhắc và điều chỉnh cho phù hợp với hoàn cảnh và các điều kiện đặc thù của Việt Nam. Cụ thể, thí sinh phải làm bài thi chuẩn hoá đánh giá năng lực chung và bài thi đánh giá năng lực chuyên biệt (tương tự như bài thi SAT1 và SAT 2 của Mỹ).

Đề thi chuẩn hóa đánh giá năng lực chung (tương tự như SAT1) là đề thi trắc nghiệm với cấu trúc đầy đủ 4 hợp phần là: Toán, Ngữ văn, Khoa học tự nhiên và Khoa học xã hội. Tổng số có 180 câu trắc nghiệm khách quan. Thời gian làm bài 215 phút (trong một buổi). Trọng số theo mức năng lực là 20% dễ, 60% trung bình và 20% khó. Nội dung các hợp phần bao phủ toàn diện 3 năm THPT, phần lớn ở lớp 12. Bài thi được chấm theo 4 đầu điểm riêng rẽ của 4 hợp phần.

Năm 2014, ĐH Quốc gia Hà Nội áp dụng bài thi này để tuyển các em đã trúng tuyển kỳ thi 3 chung vào học các chương trình chất lượng cao, tài năng, tiên tiến, chuẩn quốc tế nên đề thi đánh giá năng lực được thiết kế giản dị hơn, gồm 3 hợp phần: 50 câu Toán học, 50 câu Ngữ văn và 40 câu tự chọn (Lý – Hóa – Sinh hoặc Sử – Địa – Giáo dục công dân), thời gian làm bài là 195 phút.

Sau khi có kết quả bài thi đánh giá năng lực chung, vào ĐH Quốc gia Hà Nội các em còn phải thực hiện bài thi đánh giá năng lực chuyên biệt (tương tự như SAT 2 của Mỹ) nhằm đánh giá năng lực và kiến thức để tuyển chọn thí sinh vào học các ngành nghề cụ thể ở bậc đại học. Ví dụ những em thi vào khối các ngành KHTN – Công nghệ như Toán học, Cơ học, CNTT… có thể lựa chọn môn thi chuyên biệt là Toán, các em chọn các ngành về hóa học, sinh học có thể thi môn chuyên biệt là Hóa… Các môn thi chuyên biệt này do Hội đồng Khoa học và Đào tạo của từng trường xem xét, quyết định cho từng ngành, nhóm ngành, lĩnh vực. Các ứng viên chỉ thi một bài thi đánh giá năng lực chuyên biệt.

ĐH Quốc gia Hà Nội xây dựng và phát triển theo định hướng mô hình ĐH nghiên cứu tiên tiến nên việc thí sinh phải làm thêm bài thi đánh giá năng lực chuyên biệt là cần thiết. Các trường khác không nhất thiết áp dụng bài thi này, nhưng cũng có thể tổ chức thêm một bài thi đơn môn dạng tự luận, câu hỏi mở hoặc thi năng khiếu để có thêm thông tin đánh giá về thí sinh tuyển chọn vào các chương trình có những đòi hỏi đặc thù.

– Phương án đổi mới tuyển sinh nói trên được xây dựng trên cơ sở khoa học nào?

– Phương pháp thiết kế và chuẩn hóa các dạng trắc nghiệm để đo năng lực trong bài thi của ĐH Quốc gia Hà Nội dựa trên các lý thuyết tâm trắc học và khảo thí hiện đại. Ngoài ra, khi thiết kế phương án đổi mới tuyển sinh, trường còn mời các chuyên gia phát triển đề thi đánh giá năng lực quốc tế (đến từ Educational Testing Service – ETS) và cố vấn về chính sách tuyển sinh của Mỹ hỗ trợ.

Điểm quan trọng nhất để ĐH Quốc gia Hà Nội tự tin tuyển sinh theo phương án mới là chúng tôi đã có định hướng và từng bước chuẩn bị kỹ từ lâu. Năm 1997 khi tuyển chọn học sinh giỏi vào các hệ tài năng, sau đó là kết quả nghiên cứu từ Đề tài cấp Nhà nước về các công cụ để đánh giá tuyển chọn, phát hiện và quy trình đào tạo, bồi dưỡng tài năng từ năm 2004-2005, đến nay trường đã xây dựng được 4.000 câu hỏi nguồn và đào tạo được khoảng 50 cán bộ có kinh nghiệm, trình độ chuyên môn tốt chuyên viết câu hỏi cho bài thi chuẩn hóa đánh giá năng lực.

Chúng tôi có thế mạnh là đại học đa ngành, đa lĩnh vực có đầy đủ chuyên gia nên đã chủ động xây dựng được các câu hỏi nguồn có chất lượng. Hơn nữa, trường cũng đã thành lập Viện Đảm bảo Chất lượng giáo dục, Trung tâm khảo thí hoạt động hiệu quả. Phần mềm dùng trong đổi mới tuyển sinh đánh giá năng lực cũng do các chuyên gia của ĐH Quốc gia Hà Nội  xây dựng.

Việc làm bài thi và chấm được thực hiện trực tiếp trên máy tính, nên đảm bảo tính khách quan, chính xác và công bằng trong quá trình làm bài và chấm thi. Đó là những cơ sở vững chắc và điều kiện thực tế thuận lợi, khả thi để ĐH Quốc gia Hà Nội tiếp tục triển khai đổi mới tuyển sinh một cách hiệu quả, chắc chắn.

– Khả năng áp dụng phương thức tuyển sinh này đối với các trường đại học khác như thế nào, thưa ông?

– Năm 2015, chúng tôi áp dụng phương án tuyển sinh theo hướng đánh giá năng lực đối với các ngành có chương trình đào tạo cử nhân tài năng, tiên tiến, chất lượng cao, đạt chuẩn quốc tế. Kỳ thi đánh giá năng lực chung và chuyên biệt sẽ được tổ chức trước kỳ thi tuyển sinh ĐH 3 chung. Vì vậy, ứng viên dự tuyển vào các chương trình này, sau khi dự thi các bài thi đánh giá năng lực, vẫn có cơ hội tham gia kỳ thi 3 chung để thử sức vào các ngành khác đào tạo hệ chuẩn trong ĐH Quốc gia Hà Nội hoặc các trường đại học khác tuyển sinh theo kỳ thi 3 chung của Bộ.

Trên cơ sở những kinh nghiệm đã triển khai, năm 2016 trường sẽ áp dụng đại trà tuyển sinh theo hướng đánh giá năng lực cho tất cả ngành đào tạo ĐH trước thời điểm kỳ thi tuyển sinh ĐH theo hình thức 3 chung.

Tuy nhiên, lộ trình trên sẽ được điều chỉnh phù hợp với những chủ trương và quyết sách về đổi mới tuyển sinh của Bộ Giáo dục. Nếu như bài thi đánh giá năng lực chung của ĐH Quốc gia Hà Nội được Bộ công nhận, dùng để thực hiện một kỳ thi quốc gia chung, vừa xét tốt nghiệp THPT vừa lấy kết quả tuyển sinh vào đại học, chúng tôi sẽ đẩy nhanh lộ trình phù hợp với tình hình chung của ngành giáo dục, bổ sung nhiều câu hỏi nguồn, phối hợp với địa phương và các đơn vị khác để đảm bảo điều kiện cơ sở vật chất phục vụ cho việc triển khai thi online bài thi đánh giá năng lực chung trên phạm vi toàn quốc.

Tôi cho rằng tự chủ về tuyển sinh không có nghĩa là mỗi trường có một bài thi tuyển sinh riêng biệt. Khi bỏ kỳ thi 3 chung, một em dự định thi vào 3 trường không thể cùng lúc ôn thi với 3 bài thi với các định hướng khác nhau, như vậy sẽ không khả thi. Một trong những thành công của kỳ thi 3 chung là định hướng được công tác tuyển sinh và sự chuẩn bị của thí sinh. Công tác đổi mới tuyển sinh muốn thành công cũng phải đáp ứng được tiêu chí này.

Phương án của ĐH Quốc gia Hà Nội linh hoạt, các trường đại học có thể tuyển thí sinh vào trường mình với mức điểm khác nhau của bài thi đánh giá năng lực chung. Bài thi đánh giá năng lực chuyên biệt chỉ áp dụng cho một số trường đại học trọng điểm, có định hướng nghiên cứu, phù hợp với việc phân tầng các trường đại học Việt Nam trong tương lai.

Việc tổ chức thi nên giao cho những tổ chức, trung tâm lớn, có năng lực về đội ngũ, cơ sở vật chất và kinh nghiệm thực hiện để công tác thi tuyển có chất lượng và có độ tin cậy cao. Bài thi chuẩn hóa đánh giá năng lực chung có thể tổ chức thường xuyên, nhiều lần trong năm. Thí sinh có thể chủ động đăng ký dự tuyển kỳ thi đánh giá năng lực vào thời điểm phù hợp và đương nhiên có thể thi trước kỳ thi 3 chung.

Từ phương thức tổ chức và triển khai tuyển sinh như vậy, cùng với việc tổ chức đào tạo theo tín chỉ, tất yếu sẽ là tiền đề cho việc tuyển sinh và triệu tập nhập học vào đại học 2 lần trong năm như ở các nước tiên tiến, giảm bớt áp lực cho xã hội.

– Học sinh lớp 12 đang lo lắng với những thay đổi chưa được công bố về một kỳ thi chung. Lời khuyên của ông dành cho thí sinh là gì?

– Đổi mới phương thức tuyển sinh thực chất là thay đổi hình thức thi tuyển, đánh giá, còn bản chất vẫn là năng lực nhận thức, kiến thức và những năng lực khác mà học sinh đã được tiếp thu, đào tạo và tích lũy ở bậc phổ thông.

Bài thi đánh giá năng lực chung không khó, không nằm ngoài kiến thức phổ thông. Với bài thi đánh giá năng lực như SAT1, SAT2 của Mỹ, nội dung kiến thức bao hàm cả bậc THCS và THPT, trong khi bài thi đánh giá năng lực của ĐH Quốc gia Hà Nội vẫn trọng tâm vào kiến thức lớp 12, chỉ có 20% kiến thức ở lớp 11 và 10% lớp 10.

Nếu Bộ Giáo dục chấp nhận, phương án này có thể sử dụng để thay thế cho kỳ thi tốt nghiệp THPT. Khi bài thi được làm trong nhiều đợt, đợt đầu nếu chưa có kết quả tốt có thể đăng ký thi lại để đạt hoặc cải thiện điểm cao hơn. Thi đánh giá năng lực sẽ tạo thêm nhiều cơ hội cho thí sinh. Bên cạnh đó, vẫn có bài thi đánh giá năng lực chuyên biệt để các em học sinh giỏi, học sinh năng khiếu có cơ hội thể hiện. Các em hoàn toàn yên tâm chuẩn bị thích nghi và làm quen với những đổi mới trong tuyển sinh theo phương án của ĐH Quốc gia Hà Nội.

26.8.2014  Theo VnExpress

Messung und frderung eines basalen verstndnisses fr externe validitt bei kologischen experimenten abbau von angst und ekel gegenber spinnen im rahmen einer unterrichtseinheit in der grundschule bauernhfe als auerschulischer lernort doktorarbeit schreiben lassen preise im fokus.

GS Nguyễn Đình Đức: “Muốn GS, PGS Việt Nam đạt đẳng cấp quốc tế, để từ đó giáo dục đại học Việt Nam đạt đẳng cấp quốc tế, chúng ta phải có những bước đột phá trong việc sử dụng và đãi ngộ”

30.9.2015. Liên quan tới sự việc trường ĐH Tôn Đức Thắng bổ nhiệm giáo sư (GS), phó giáo sư (PGS) đã nhận được nhiều ý kiến trái chiều. Trao đổi với phóng viên về vấn đề này, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, Trưởng Ban Đào tạo Đại học Quốc gia Hà Nội, Ủy viên Hội đồng chức danh Giáo sư ngành Cơ học, khẳng định: Việt Nam có truyền thống tôn sư trọng đạo, nên việc phong và bổ nhiệm chức danh này ở ta còn thể hiện sự tôn vinh, được xem như sự “đãi ngộ” chính đáng về tinh thần. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng là sử dụng và đãi ngộ đội ngũ chất xám chất lượng cao này.

PV: Thưa GS, vừa qua có nhiều ý kiến xung quanh việc phong và bổ nhiệm GS, PGS ở Việt Nam, ông có bình luận gì về vấn đề này?

GS. Nguyễn Đình Đức: Những ý kiến ủng hộ chủ yếu dựa vào lý lẽ là thông lệ ở một số nước tiên tiến làm thế, Việt Nam cũng nên học tập theo, mà chưa phân tích và nhận dạng các điều kiện khác nhau giữa Việt Nam và thế giới. Một bài toán có phương trình giống nhau, điều kiện biên khác nhau thì lời giải phải khác nhau chứ?

truong dai hoc tu phong giao su can hieu tu chu nhu the  nao hinh 1

  Theo GS Nguyễn Đình Đức, việc phong GS, PGS ảnh hưởng trực tiếp đến toàn bộ nền giáo dục đại học nước nhà

Các GS đang làm việc tại nước ngoài đều khẳng định ở nhiều nước, việc phong và bổ nhiệm GS, PGS là quyền tự chủ của các trường và có tiêu chí rõ ràng, nhưng không tùy tiện, thậm chí có cả thẩm định của các chuyên gia quốc tế. Đội ngũ này còn được xem là tiêu chí quan trọng để kiểm định, đánh giá, phản ánh chất lượng và xếp hạng các trường đại học.

Khi so sánh và đánh giá GS, PGS Việt Nam với các GS, PGS ở nước ngoài và ngược lại, phải lưu ý toàn diện đặc điểm lịch sử, văn hóa, tính đặc thù, điều kiện kinh tế – xã hội, môi trường làm việc… Việc áp dụng một phần, hoặc nguyên xi bất kỳ mô hình và cách làm nào của nước ngoài vào Việt Nam vào thời điểm nào, ở đâu và như thế nào cũng cần phải đánh giá, cân nhắc, xem xét với quan điểm khoa học và biện chứng như vậy.

PV: Thưa GS, ông quan tâm về khía cạnh nào trong những tranh luận này?

GS. Nguyễn Đình Đức: Theo tôi, nguồn gốc của những tranh luận và ý kiến nhiều chiều về việc bổ nhiệm GS, PGS đều có nguồn gốc và nguyên nhân sâu xa ở việc sử dụng và đãi ngộ. Nếu chúng ta sử dụng đúng người có năng lực và đãi ngộ xứng đáng với tài năng và cống hiến thì sẽ không có hiện tượng chạy theo hư danh.

Trong việc phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nhân tài, vấn đề sử dụng là quan trọng nhất. Hiện nay có tình trạng chưa sử dụng đúng người có năng lực. Năng lực và kết quả công việc, kết quả nghiên cứu khác nhau, thậm chí khác xa nhau, nhưng cùng chức danh và đãi ngộ thì như nhau.

Không những thế, lương và chế độ đãi ngộ của Nhà nước với các GS, PGS còn thấp so với các nước tiên tiến. Cũng chưa có sự khác biệt đáng kể về lương và đãi ngộ giữa GS và PGS. Trên thực tế có GS đang giảng dạy tại các trường đại học Việt Nam có mức lương thấp hơn của sinh viên mới ra trường của họ.

Trong các trường đại học vẫn phổ biến hiện tượng trọng chức tước hành chính hơn chức danh GS. Vai trò tự chủ của các GS trong việc quyết định các vấn đề liên quan đến giảng dạy, nghiên cứu, hướng dẫn nghiên cứu sinh còn chưa được chú trọng và chưa được tôn trọng thỏa đáng. Đây chính là những bất cập lớn nhất với đội ngũ trí thức có trình độ cao trong các cơ sở giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay.

Muốn GS, PGS Việt Nam đạt đẳng cấp quốc tế, để từ đó giáo dục đại học Việt Nam đạt đẳng cấp quốc tế, chúng ta phải có những bước đột phá trọng việc sử dụng và đãi ngộ, học tập như quốc tế đã tạo điều kiện cho các GS, PGS của họ.

 PV: V iệc phong và bổ nhiệm chức danh GS và PGS có liên quan gì đến vấn đề tự chủ đại học không, thưa GS?

GS. Nguyễn Đình Đức: Vấn đề trao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục đại học là xu thế phát triển và là chủ trương hoàn toàn đúng đắn. Nhưng qua sự việc ĐH Tôn Đức Thắng hiểu là tự chủ cũng có nghĩa là có thể tự bổ nhiệm GS và PGS – bỏ qua các quy định hiện hành của Thủ tướng Chính phủ và những dư luận ý kiến xung quanh sự việc này, tôi thấy nổi lên vấn đề rất lớn về việc trao quyền tự chủ cho các trường đại học là trao cho ai? Trao như thế nào?

Bên cạnh đó, cần giám sát quyền thực hiện tự chủ ra sao để đảm bảo mục đích cuối cùng của “tự chủ đại học” là phát huy cao nhất nội lực và cơ chế, các nguồn lực để phát triển nhà trường, nhưng phải đạt được nâng cao hiệu quả và chất lượng của giáo dục đại học, đảm bảo được công bằng xã hội.

Trên thực tế, kể từ năm 2012, khi Thủ tướng ban hành Quyết định 20, cơ sở giáo dục có quyền tự chủ rất lớn trong việc phong và bổ nhiệm GS, PGS và thực tế là hiện nay ở Việt Nam, mỗi GS, PGS đều đã gắn với một cơ sở giáo dục đại học. Có thể đánh giá việc xét công nhận đạt chuẩn cũng như bổ nhiệm GS, PGS của Việt Nam hiện nay đang từng bước đổi mới, với các tiêu chí ngày càng cao hơn, phân quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục đại học lớn hơn; đang tiếp cận các thông lệ, chuẩn mực quốc tế, phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của Việt Nam.

Điều mà các cơ sở giáo dục của ta, mặc dù quyền tự chủ đại học đã cho phép, nhưng chưa làm được là vì còn nể nang, dễ dãi khi xem xét ở cấp cơ sở. Khi bổ nhiệm GS, PGS chưa mạnh dạn đề ra các tiêu chí cao hơn so với chuẩn của Hội đồng chức danh GS Nhà nước; cũng chưa thực hiện quy định việc đánh giá định kỳ với các chức danh GS và PGS để có thể bổ nhiệm lại hoặc miễn nhiệm.

Qua vấn đề tự chủ của ĐH Tôn Đức Thắng vừa qua nổi lên một bất cập là các trường được tự chủ đều là các đại học mới, đội ngũ mỏng, nhưng lại được thu học phí cao, do vậy có thể chi trả cho đội ngũ GS, PGS, giảng viên cao. Trong khi các trường công lập có bề dày kinh nghiệm đào tạo và nghiên cứu, đội ngũ mạnh thì lại thu học phí theo mức kinh phí do Chính phủ quy định (còn quá thấp), trong khi kinh phí đầu tư của Nhà nước có hạn.

PV: Trên diễn đàn, GS Ngô Bảo Châu có nhận xét là “GS ở Việt Nam là một học hàm, là sự công nhận của Nhà nước đối với nhà khoa học, rất danh dự”,  ý kiến của ông về vấn đề này như thế nào?

GS. Nguyễn Đình Đức: Đúng vậy, một mặt chính vì lương và sự đãi ngộ về vật chất với các GS, PGS ở Việt Nam còn thấp, chưa thỏa đáng; mặt khác, Việt Nam có truyền thống tôn sư trọng đạo, nên việc phong và bổ nhiệm chức danh này ở Việt Nam còn thể hiện sự tôn vinh. Đây được xem như sự đãi ngộ chính đáng về tinh thần, có yếu tố của truyền thống và văn hóa của dân tộc Việt Nam.

Chúng ta phải khách quan ghi nhận sự nỗ lực và những đóng góp to lớn của đội ngũ các nhà giáo, trong đó có các GS, PGS đã đào tạo hàng vạn nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước. Một bộ phận không nhỏ TS đào tạo tại Việt Nam có thành tích nghiên cứu khoa học rất xuất sắc, được mời làm việc và thực tập sau tiến sỹ tại các trường đại học, viện nghiên cứu uy tín  trên quốc tế.

Nhiều GS, PGS Việt Nam được mời làm việc và giảng dạy tại các viện nghiên cứu, các trường đại học có danh tiếng ở nước ngoài. Rất nhiều đề tài, dự án của các nhà khoa học Việt Nam đã đi vào cuộc sống… Những đóng góp đó chẳng phải là có sự đóng góp to lớn của đội ngũ GS, PGS Việt Nam hay sao?  Chính vì vậy, GS, PGS từ trước đến nay vừa là chức danh cao quý, vừa là vinh dự thiêng liêng của các nhà giáo Việt Nam.

Việc phong GS, PGS là chuyện không hề nhỏ vì ảnh hưởng trực tiếp đến toàn bộ hoạt động, chuẩn mực và chất lượng của nền giáo dục đại học Việt Nam. Hy vọng Đảng và Nhà nước sẽ sáng suốt có những quyết định đúng đắn và kịp thời về vấn đề này.

PV : Xin cảm ơn GS!./.

30.9.2015  Hà Linh/VOV.VN (thực hiện)

In the invite people who can do my homework in domyhomework.guru box, type the full names or email addresses of the people you want to give edit access to.

GS Nguyễn Đình Đức: Triết lý của một mô hình đào tạo tiên tiến

(GDVN) – “Nghiên cứu khoa học để tiếp cận đỉnh cao của trí thức, đào tạo nguồn nhân lực, từ đó quay trở lại phục vụ đào tạo”.

Đây là triết lý được ĐHQGHN cụ thể hóa trong quá trình đào tạo sinh viên, đặc biệt là sinh viên diện tài năng.Tiếp tục mạch bài đã được Tòa soạn giới thiệu, GS. Nguyễn Đình Đức – Trưởng ban Đào tạo (Đại học và Sau đại học) chia sẻ thêm thông tin về quá trình đào tạo sinh viên tài năng của ĐHQGHN, đây được xem như là quá trình để cho ra những sản phẩm đào tạo chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của nguồn nhân lực trong công cuộc hiện đại học, công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế.

Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Hiện nay (đến tháng 1/2015) toàn ĐHQGHN đang tổ chức đào tạo 36 ngành đại học (4 ngành đào tạo tài năng; 22 ngành chất lượng cao; 3 ngành đào tạo tiên tiến; 7 ngành đào tạo chuẩn quốc tế) và 8 chuyên ngành sau đại học đạt chuẩn quốc tế. Số sinh viên hiện nay đang theo học các chương trình đào tạo đặc biệt là 3.196, chiếm 13,8 % tổng số sinh viên đại học chính quy toàn ĐHQGHN.

Mô hình nghiên cứu tiên tiến

ĐHQGHN đã tập hợp được đội ngũ các thầy, cô giáo giỏi, các nhà khoa học có uy tín, có trình độ chuyên môn cao, có kinh nghiệm giảng dạy và tâm huyết trong và ngoài ĐHQGHN (kể cả các chuyên gia nước ngoài) tham gia vào đào tạo cử nhân tài năng, chất lượng cao, chương trình tiên tiến, nhiệm vụ chiến lược.

Một số nhà khoa học nổi tiếng thế giới, từng đạt giải Nobel đã đến thăm, gặp gỡ, trao đổi với sinh viên các khóa đào tạo cử nhân khoa học tài năng của Trường ĐHKHTN như: GS. James W. Cronin (Nobel 1980); GS. Klaus Von Klitzing (Nobel 1985); GS. Norman Ramsay (Nobel 1989); GS. Jerome Friedman (Nobel 1990); các giáo viên người nước ngoài dạy ngoại ngữ cho các lớp tài năng; Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường ĐH Ngoại ngữ mời một số giáo sư nước ngoài tham gia giảng dạy, Trường ĐH Công nghệ mời một số giáo sư Việt kiều về giảng dạy và quản lý bộ môn…

Quy mô đào tạo Đại học chính quy của ĐHQGHN tính đến 1.2015

table

Triết lý của ĐHQGHN là đào tạo chất lượng cao, trình độ cao phải gắn với nghiên cứu, thông qua nghiên cứu. Nghiên cứu khoa học để tiếp cận đỉnh cao của trí thức, đào tạo nguồn nhân lực, từ đó quay trở lại phục vụ đào tạo. Việc đào tạo và trưởng thành của mỗi cá nhân và nhà khoa học được hình thành và tôi luyện trong các nhóm nghiên cứu, các trường phái học thuật.

Bên cạnh nguồn nhân lực tham gia trực tiếp đào tạo, công tác giáo trình, bài giảng được quan tâm đầu tư cả về số lượng và chất lượng. Nhiều môn học đã sử dụng giáo trình dịch hoặc nguyên bản bằng tiếng nước ngoài.

Triết lý của ĐHQGHN là đào tạo chất lượng cao, trình độ cao phải gắn với nghiên cứu, thông qua nghiên cứu.

Trong quá trình triển khai đào tạo các hệ đặc biệt, ĐHQGHN đã đầu tư được hệ thống trên 80 phòng thí nghiệm chuyên ngành hiện đại, hơn 60 phòng học chuẩn, hàng trăm nghìn học liệu, cử hàng nghìn lượt cán bộ, giảng viên của ĐHQGHN đi trao đổi hợp tác với nước ngoài, thiết lập hợp tác với nhiều địa phương, doanh nghiệp lớn trên địa bàn cả nước cũng như hợp tác với trên 140 cơ sở giáo dục đào tạo có uy tín trên thế giới.Các cơ sở học liệu dùng cho sinh viên ngoại ngữ và môn học ngoại ngữ chuyên ngành khá đầy đủ. ĐHQGHN đã dành kinh phí khá lớn cho việc mua các sách, tạp chí khoa học, tài liệu tham khảo bằng tiếng nước ngoài, ưu tiên đặc biệt cho các ngành tham gia đào tạo tài năng, chất lượng cao, tiên tiến, nhiệm vụ chiến lược.

Phần lớn các môn học nâng cao đều được dạy theo phương pháp tích cực ở những mức độ khác nhau, có sử dụng các phương tiện hiện đại hỗ trợ, kết hợp giảng lý thuyết, xemina, thảo luận, thực hành.

Một số đơn vị đào tạo đã chú ý đến việc tổ chức dạy một số môn học của chương trình chất lượng cao bằng tiếng nước ngoài. Với các chương trình tài năng, khuyến khích năm cuối xemina, học chuyên đề bằng tiếng Anh.

Các chương trình chuẩn quốc tế (tiên tiến, nhiệm vụ chiến lược) được giảng dạy 100% bằng tiếng Anh (ngoại trừ một số chương trình thuộc xã hội nhân văn chỉ yêu cầu khoảng 50% số môn học trong chương trình đào tạo giảng dạy bằng tiếng Anh). Luận văn, luận án và bảo vệ luận văn luận án của các chương trình này thực hiện hoàn toàn bằng tiếng Anh.

ĐHQGHN phát triển theo định hướng mô hình đại học nghiên cứu tiên tiến.nghiên cứu khoa học luôn gắn kết chặt chẽ với đào tạo. Vì vậy tất cả sinh viên những chương trình tài năng, chất lượng cao, chương trình tiên tiến, chương trình nhiệm vụ chiến lược đều tham gia nghiên cứu khoa học ngay từ những năm đầu.

Trong quá trình tổ chức đào tạo, ĐHQGHN luôn đặc biệt quan tâm đến các điều kiện đảm bảo chất lượng như: chất lượng đầu vào (tuyển sinh), tổ chức và quản lý đào tạo, cơ sở vật chất…, ĐHQGHN đã thực hiện một số phương  thức mới, hiện đại để phát hiện và tuyển chọn được các học sinh giỏi trong cả nước vào học chương trình đào tạo cử nhân khoa học tài năng các ngành Toán học, Vật lý, Hóa học, Sinh học.

Hàng năm, trung bình ĐHQGHN tuyển chọn từ 60 đến 80 sinh viên vào học các chương trình đào tạo cử nhân khoa học tài năng. Các sinh viên được tuyển chọn vào học chương trình đào tạo cử nhân khoa học tài năng hầu hết đã đạt giỏi trong các kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia lớp 12, Olympic quốc tế hoặc là học sinh xuất sắc của các trường trung học phổ thông. Hiếm có lớp sinh viên có chất lượng tuyển sinh đầu vào cao như vậy trong các trường đại học của Việt Nam.

Đào tạo nhưng phải có nghiên cứu

Đào tạo tài năng, chất lượng cao và chuẩn quốc tế nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học tài năng và đưa chất lượng đào tạo đạt chuẩn quốc tế là một chủ trương đúng, là sứ mạng, chức năng và mục tiêu của ĐHQGHN, phù hợp với yêu cầu đổi mới của đất nước, xu thế hội nhập quốc tế và  sự phát triển của thời đại.

Nhưng muốn làm tốt trước hết cần có sự đầu tư, chuẩn bị chu đáo từ tuyển sinh, lựa chọn chất lượng đầu vào; chuẩn bị đội ngũ giảng viên; thiết kế chương trình phù hợp, tiên tiến, hiện đại; sự đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị và kinh phí phù hợp vàđặc biệt là sự chín muồi về đội ngũ cán bộ khoa học đầu ngành, tài năng và tâm huyết, cũng như sự thống nhất trong tư tưởng, chỉ đạo và hành động từ các cấp lãnh đạo và sự nhất trí cao của cán bộ giảng dạy, sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh thì mới thành công.

Bài học lớn nhất trong quá trình triển khai đào tạo nhân tài là cần gắn đào tạo phải gắn với nghiên cứu. Không chỉ cung cấp kiến thức, kỹ năng, mà cần trang bị và rèn luyện cho người học phương pháp tư duy, phương pháp tiếp cận, giải quyết vấn đề vừa sâu, rộng lại hiện đại; tạo được môi trường tự do học thuật và sáng tạo, đồng thời phải trang bị các kỹ năng và quan trọng nhất là chú trọng phát triển tầm nhìn cho người học.

Trong cơ chế chính sách triển khai đào tạo tài năng không áp dụng máy móc theo khuôn mẫu của nước ngoài, cần xuất phát từ thực tiễn kết hợp với đổi mới tư duy.
Phải ưu tiên tập trung đầu tư các nguồn lực cho đào tạo tài năng. Mạnh dạn đề xuất và áp dụng những quy định cũng như chế độ, chính sách đặc biệt, cũng như thay đổi sát với tình hình thực tế.

Cần nghiên cứu, kế thừa và phát huy kinh nghiệm đào tạo tài năng của Việt Nam và các nước để thiết kế và triển khai thí điểm thành công những mô hình đào tạo phù hợp với hoàn cảnh thực tế rồi mới nhân rộng ra.

Từ các chương trình chuẩn quốc tế, từng bước mở rộng lên xây dựng từng ngành, từng khoa đạt chuẩn quốc tế là bước đi khả thi và phù hợp.

Các chương trình đào tạo tài năng, chất lượng cao, tiên tiến, vừa là phương thức thể hiện, vừa là biểu hiện và kết quả của triết lý, mục tiêu và hành động của ĐHQGHN trong việc đào tạo tinh hoa, thông qua hoạt động giảng dạy và nghiên cứu để phát hiện, bồi dưỡng, đào tạo nhân tài.

Với truyền thống hơn 100 năm xây dựng và trưởng thành, tiền thân từ đại học Đông Dương, ĐHQGHN luôn là biểu tượng của văn hóa và trí tuệ Việt Nam.

Không phải ngẫu nhiên cựu sinh viên của Đại học Tổng hợp trước kia (nay là ĐHQGHN) lại có những con người như Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng, Bí Thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị, những nhà khoa học xuất chúng như GS.Ngô Bảo Châu, GS.Đàm Thanh Sơn (đều là cựu học sinh chuyên toán của ĐH Tổng hợp Hà Nội), những tên tuổi anh hùng đã đi vào lịch sử vẻ vang của dân tộc như liệt sỹ Lê Anh Xuân, liệt sỹ Nguyễn Văn Thạc,…

Đào tạo nhân tài vừa là truyền thống, là niềm tự hào, lại vừa là trách nhiệm và sứ mạng của ĐHQGHN, được thấm nhuần, kế thừa, tiếp thu và vun đắp qua nhiều thế hệ cán bộ, giảng viên và sinh viên của ĐHQGHN, và là nhân tố quan trọng nhất làm nên vị thế và uy tín của ĐHQGHN.

Đến nay, các chương trình đào tạo cử nhân tài năng, chất lượng cao, tiên tiến, nhiêm vụ chiến lượcđã được triển khai thành công ở 32 ngành học của tất cả các đơn vị đào tạo trong ĐHQGHN.

Đây có thể xem là những “đặc sản”, đặc sắc trong đào tạo của ĐHQGHN, đãcùng hoạt động đào tạo nói chung, cũng như cùng các hoạt động khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế, góp phần quan trọng đưa ĐHQGHN lọt vào tốp 170 các đại học hàng đầu của Châu Á trong bảng xếp hạng QS năm 2014.

Der erfolgreiche https://hausarbeit-agentur.com/ einsatz von smartphone und co lehrerinnen und lehrer lernen konzepte und befunde zur lehrerfortbildung.

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức: “Tự chủ đại học – Đua giáo sư để chạy theo hư danh!”

Câu chuyện trường ĐH Tôn Đức Thắng tự phong GS,PGS bắt nguồn từ việc thực hiện tự chủ đại học đang gây nhiều tranh cãi. Như vậy cho thấy, việc thực hiện tự chủ đại học Việt Nam tuy mới bắt đầu thực hiện nhưng đã nảy sinh hàng loạt vấn đề bất cập như trường nào được thực hiện tự chủ? Tự chủ một phần hay toàn bộ? Ai giám sát tự chủ?…Phóng viên Dân trí đã có cuộc trao đổi với GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, Trưởng Ban Đào tạo ĐHQGHN, Ủy viên Hội đồng chức danh GS ngành Cơ học về vấn đề này.

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức

“Tự chủ đại học” là phát huy cao nhất phát triển nhà trường.

Tất cả các ý kiến tranh luận về trường ĐH tự phong GS,PGS đều cho rằng xuất phát từ việc bắt đầu thực hiện tự chủ ĐH. Vậy hiểu chính xác tự chủ đại học ở Việt Nam thực hiện như thế nào? GS có thể giải thích rõ?

Trên thế giới có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm tự chủ đại học(UNESCO, Mỹ, EU, OECD, …), nhưng theo tôi hiểu và tóm lược lại một cách giản dị, tự chủ đại học là các cơ sở giáo dục đại học (GDĐH) thoát ra khỏi sự kiểm soát, hạn chế của các cơ quan quản lý nhà nước, hoạt động theo cách thức họlựa chọn để đạt được sứ mạng và mục tiêu do chính cơ sở GDĐH đặt ra. Các thành tố chủ yếu của tự chủ đại học bao gồm: Tự chủ nguồn nhân lực, tự chủ tài chính, tự chủ trong học thuật, tự chủ trong xây dựng chương trình, tuyển sinh, quản lý người học; Tự chủ trong kiểm tra đánh giá và các chuẩn mực văn bằng;….

Tự chủ đại học là yếu tố cơ bản trong quản trị đại học hiện đại, và là xu thế phát triển của các trường đại học trên thế giới. Chính vì vậy, chủ trương trao quyền tự chủ cho các cơ sở GDĐH là hoàn toàn đúng đắn và cần thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa trong thời gian tới, để các cơ sở GDĐH Việt Nam có cơ chế thuận lợi và phát huy mọi nguồn lực phát triển, nhanh chóng hội nhập và tiếp cận với các chuẩn mực như của quốc tế.

Theo tôi hiểu, một cơ sở GDĐH dù có tự chủ đến đâu, thì tóm lại cũng phải đạt được 2 mục tiêu cơ bản bất di bất dịch là giảm bớt (tiến tới cắt hoàn toàn) việc hỗ trợ từ ngân sách nhà nước và thông qua quyền tự chủ để nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu. Không vì để đạt mục tiêu này mà xem nhẹ mục tiêu kia. Như vậy ngay trong mục tiêu tự chủ, cũng đã có sự ràng buộc?

Với Quyết định 174 và Quyết định 20 của Thủ tướng Chính phủ, có thể đánh giá là việc xét công nhận đạt chuẩn cũng như bổ nhiệm GS, PGS của Việt Nam hiện nay đang từng bước đổi mới, với các tiêu chí ngày càng cao hơn, phân quyền tự chủ cho các cơ sở GDĐH lớn hơn và đang tiếp cận các thông lệ và chuẩn mực quốc tế, phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của Việt Nam.

Điều mà các cơ sở GDĐH của chúng ta, mặc dù quyền tự chủ đại học đã cho phép, nhưng chưa làm đượclà: ví dụ như còn nể nang, dễ dãi khi xem xét ở cấp cơ sở; khi bổ nhiệm GS,PGS chưa mạnh dạn đề ra các tiêu chí cao hơn so với chuẩn của HĐ CDGSNN (chẳng hạn như yêu cầu phải có các công bố quốc tế có giá trị); cũng chưa thực hiện quy định việc đánh giá định kỳ với các chức danh GS và PGS để có thể bổ nhiệm lại hoặc miễn nhiệm.

Chính vì vậy, như tôi đã trao đổi và nêu ý kiến ở bài trả lời phỏng vấn trước đây, việc đổi mới công nhận chuẩn và bổ nhiệm chức danh GS, PGS ở Việt Nam theo thông lệ và chuẩn mực quốc tế, thực chất không chỉ phụ thuộc vào Hội đồng chức danh GS Nhà nước, mà chủ yếu chính là ở sự tự chủ và quyết tâm cao của các cơ sở giáo dục đại học là với hàm ý như vậy.

Vấn đề trao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục đại học là xu thế phát triển và là chủ trương hoàn toàn đúng đắn, nhưng qua sự việc ĐH Tôn Đức Thắng hiểu là tự chủ cũng có nghĩa là có thể tự bổ nhiệm GS và PGS, bỏ qua các Quy định hiện hành của Thủ tướng Chính phủ, và những dư luận ý kiến xung quanh sự việc này, tôi thấy nổi lên vấn đề rất lớn về việc trao quyền tự chủ cho các trường đại học: trao cho ai (phải đáp ứng điều kiện như thế nào trường đại học mới được tự chủ hoàn toàn), trao như thế nào (một phần hay toàn bộ; những gì trường vẫn cần thực hiện theo các quy định của Nhà nước khi đã được tự chủ để đảm bảo chất lượng) và cần giám sát quyền thực hiện tự chủ ra sao để đảm bảo mục đích cuối cùng của “Tự chủ đại học” là phát huy cao nhất nội lực và cơ chế, các nguồn lực để phát triển nhà trường.

Đồng thời phải đạt được nâng cao hiệu quả và chất lượng của giáo dục đại học, đảm bảo được công bằng xã hội và đáp ứng 2 mục tiêu cơ bản của tự chủ đại học là vấn đề cần được tiếp tục xác định rõ hơn, áp dụng thận trọng hơn trong thời gian tới ở Việt Nam.

Đội ngũ GS, PGS phản ánh chất lượng và xếp hạng các trường đại học

Thực tế ở một số nước rất phát triển trên thế giới, vẫn tồn tại song song các trường đại học được trao quyền tự chủ tuyệt đối và các trường vẫn phải chịu sự kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước?

Các nước ở các khu vực khác nhau có mức độ tự chủ đại học khác nhau, ở trong cùng một quốc gia, mức độ tự chủ giao cho các cơ sở giáo dục đại học có thể cũng rất khác nhau tùy theo tính chất, chất lượng của các cơ sở giáo dục đó.

Như vậy có thể thấy rất rõ từ kinh nghiệm của thế giới là việc giao tự chủ đại học rất đa dạng, là xu thế phát triển nhưng cũng không thể tùy tiện, bất cứ cơ sở giáo dục đại học nào “xung phong” xin tự chủ hoàn toàn là cho tự chủ hoàn toàn ngay được.

Tự chủ hoàn toàn có nội dung và nội hàm được xác định cụ thể, vì vậy không có nghĩa là được làm tất cả những gì theo ý mình.

Nếu chúng ta học tập áp dụng tiêu chuẩn quốc tế vào việc thực hiện tự chủ đại học ở Việt Nam, tôi e khó thực hiện được?

Một bài toán có phương trình giống nhau, điều kiện biên khác nhau thì lời giải phải khác nhau chứ, sao lại giống nhau được? Các dư luận ủng hộ tự chủ đại học đang nói đến phương trình mà chưa xem xét các điều kiện biên.

Các ý kiến của các GS đang làm việc tại nước ngoài đều khẳng định ở nhiều nước, việc phong và bổ nhiệm GS, PGS là quyền tự chủ của các trường, và tiêu chí rõ ràng, thủ tục gọn nhẹ, nhưng qua các mô tả của họ, tôi đều thấy có điểm chung, là không tùy tiện, mà có tiêu chí và đòi hỏi rất cao, sự thẩm định chuyên môn rất kỹ và thậm chí có cả thẩm định của các chuyên gia quốc tế.

Điều này cho thấy chức danh GS, PGS đại họcở nước ngoài thực sự là đội ngũ có trình độ cao, có năng lực sáng tạo cao, thực sự là tinh hoa của các trường đại học trong hoạt động nghiên cứu và đào tạo.

Như vậy, việc phong và bổ nhiệm GS, PGS ở các trường đại học của nước ngoài là việc xem xét đánh giá, thẩm định năng lực, trình độ, kết quả, sự cống hiến trong nghiên cứu và giảng dạy của giảng viên đại học đã có trình độ TS với các tiêu chí rất cao và khắt khe để từ đó phân loại, giao nhiệm vụ và đãi ngộ.Chính vì thế, đội ngũ này còn được xem là tiêu chí quan trọng để kiểm định, đánh giá, phản ánhchất lượng và xếp hạng các trường đại học.

Cho nên nếu theo thông lệ quốc tế, thì việc phong và bổ nhiệm GS, PGS ở các trường đại học của Việt Nam cũng phải đạt được mục đích và nội hàm như vậy, chúng ta phải nhận thức rõ điều này, và do đó, không thể tùy tiện.

Tôi muốn khẳng định lại, là học theo cách làm quốc tế nhưng xin nhớ rằng cũng phải theo các chuẩn mực khoa học quốc tế, yêu cầu cao, rất khắt khe khi xem xét bổ nhiệm GS,PGS và có sự khác biệt rất lớn giữa chức danh GS với PGS. Có như vậy, mới đúng với mục tiêu và bản chất của việc bổ nhiệm các chức danh này trong các trường đại học Việt Nam theo thông lệ của thế giới.

Đa số GS Việt Nam chưa có phòng làm việc riêng, không có kinh phí dự hội nghị, hội thảo quốc tế

Đãi ngộ xứng đáng với tài năng sẽ không có hiện tượng chạy theo hư danh

Nếu so sánh việc phong và bổ nhiệm GS,PGS ở Việt Nam với chuẩn mực của quốc tế, khắt khe như vậy đó là điều đáng mừng, nhân đây tôi muốn GS chia sẻ về vấn đề đãi ngộ GS,PGS ở Việt Nam hiện nay thế nào?

Khi chúng ta so sánh và đánh giá GS, PGS Việt Nam với các GS,PGS ở nước ngoài, cũng như khi đánh giá so sánh GS, PGS nước ngoài với các GS, PGS Việt Nam, phải lưu ý cho toàn diện đặc điểm lịch sử, văn hóa, tính đặc thù, điều kiện kinh tế xã hội, điều kiện và môi trường làm việc… phải có một sự đánh giá toàn diện, khách quan và công bằng.

Nếu chúng ta sử dụng đúng người có năng lực và đãi ngộ xứng đáng với tài năng và cống hiến thì sẽ không có hiện tượng chạy theo hư danh.Trong việc phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nhân tài, thì vấn đề sử dụng là quan trọng nhất, là chìa khóa để nhân tài được phát huy, từ đó mà nhân tài được nảy nở.

Hiện nay có tình trạng chưa sử dụng đúng người có năng lực. Năng lực và kết quả công việc, kết quả nghiên cứu khác nhau, thậm chí khác xa nhau, nhưng cùng chức danh và đãi ngộ thì như nhau.

Không những thế, lương và chế độ đãi ngộ của Nhà nước với các GS, PGS còn thấp, và quá thấp so với các nước tiên tiến. Cũng chưa có sự khác biệt đáng kể về lương và đãi ngộ giữa GS và PGS.

Trên thực tế có GS đang giảng dạy tại các trường đại học Việt Nam thấp hơn lương của sinh viên mới ra trường của họ. Đa số GS chưa có phòng làm việc riêng, không có kinh phí dự hội nghị, hội thảo quốc tế; không có kinh phí mời và tiếp các GS nước ngoài đến trao đổi, làm việc; không có kinh phí để cấp học bổng cho các NCS nước ngoài đến làm luận án TS với các GS Việt Nam,…

Giáo sư của các trường đại học lớn có uy tín của Việt Nam, có nhóm nghiên cứu mạnh, có năng lực sáng tạo cao và nhiều thành tích trong hoạt động giảng dạy và nghiên cứu, có nhiều công bố quốc tế cũng không có sự khác biệt đãi ngộ về chế độ chính sách.

Được biết, Nghị định 141 của Thủ tướng Chính phủ đã ban hành từ cuối năm 2013 về chính sách đối với giảng viên, trong đó có những thay đổi mạnh dạn hơn trong việc xếp lương cho GS, PGS trong các cơ sở GDĐH?

Nghị định này đến nay vẫn chưa được thực hiện. Trong các trường đại học vẫn phổ biến hiện tượng trọng chức tước hành chính hơn chức danh GS. Vai trò tự chủ của các GS trong việc quyết định các vấn đề liên quan đến giảng dạy, nghiên cứu, hướng dẫn NCS còn chưa được chú trọng và chưa được tôn trọng thỏa đáng. Đây chính là những bất cập lớn nhất với đội ngũ trí thức có trình độ cao trong các cơ sở GDĐH ở Việt Nam hiện nay.

Theo tôi, cái gốc để phát huy đội ngũ trí thức Việt Nam là vấn đề sử dụng và đãi ngộ (đãi ngộ được hiểu không chỉ lương bổng, mà còn là điều kiện, môi trường làm việc và sự tôn vinh)

Một cách thẳng thắn và công bằng là muốn GS, PGS Việt Nam đạt đẳng cấp quốc tế, để từ đó giáo dục đại học Việt Nam đạt đẳng cấp quốc tế, chúng ta phải có những bước đột phá trọng việc sử dụng và đãi ngộ, học tập như quốc tế đã tạo điều kiện cho các GS, PGS của họ.

Chính sách đãi ngộ thỏa đáng, sử dụng đúng tài năng, đánh giá và bổ nhiệm, đề bạt cán bộ khách quan – công bằng, đồng thời minh bạch và công khai hoạt động khoa học công nghệ của từng chức danh GS, PGS, TS hằng năm,sẽ vừa là động lực, vừa là tiêu chí để đội ngũ trí thức tự rèn luyện và phấn đấu, tự sàng lọc, cạnh tranh lành mạnh cho phát triển, và sẽ không còn chỗ cho những người bằng cấp thật, học hàm GS,PGS thật nhưng trình độ và kiến thức chưa thật tương xứng tồn tại trong môi trường giáo dục đại học.

Xin trân trọng cám ơn GS!

Theo Dantri

Then launch winterboard, navigate to select themes and tap on evader iph5 widget, evader iph5 uilockscreen and evad3rs cydia icon to select them.