Phát triển khoa học công nghệ: Chiếc đũa thần đưa Việt Nam phát triển hùng cường

Đại hội XIV của Đảng không chỉ là một dấu mốc chính trị quan trọng mà còn là thời điểm then chốt để định hình tầm nhìn phát triển của Việt Nam trong nhiều thập niên tới.

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức – Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội

Khoa học công nghệ – Động lực then chốt phát triển đất nước

Phóng viên: Thưa Giáo sư, ông đánh giá thế nào về tầm quan trọng của khoa học công nghệ đối với sự phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay?

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức: Lịch sử đã chứng minh rằng, các quốc gia phát triển trên thế giới như Anh, Pháp, Mỹ… gần đây là Trung Quốc và Hàn Quốc đều rất quan tâm và chú trọng đầu tư cho khoa học, công nghệ. Bước vào thế kỷ XXI, thế giới biến chuyển nhanh chóng dưới tác động của Cách mạng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và kinh tế tri thức.

Trong bối cảnh đó, tháng 12/2024, Bộ chính trị đã ban hành Nghị quyết 57-NQ/TW, đặt ra mục tiêu lấy chuyển đổi số, công nghệ cao và đổi mới sáng tạo là 3 mũi nhọn đột phá đưa đất nước trở thành quốc gia phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên tới. Trong đó phát triển công nghệ cao, khoa học, công nghệ là gốc, là giá trị cốt lõi.

Vai trò của giáo dục đại học trong mô hình tăng trưởng mới

Phóng viên: Xin Giáo sư chia sẻ cụ thể hơn về vai trò của khoa học, công nghệ và giáo dục đại học trong mô hình tăng trưởng mới?

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức: Việc xác định khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực then chốt, là “chiếc đũa thần” của sự tăng trưởng, là nền tảng của năng lực cạnh tranh quốc gia và là trụ cột của phát triển bền vững, thể hiện bước tiến lớn về nhận thức, phản ánh tầm nhìn dài hạn và sự nhạy bén của Đảng, Nhà nước ta.

Để thực hiện thành công mục tiêu trên, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, xác định giáo dục đại học là quốc sách hàng đầu, các nhà khoa học, các trường đại học, viện nghiên cứu đóng vai trò then chốt. Các định hướng về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số quốc gia, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo… cũng như chiến lược phát triển giáo dục đại học và nhân lực chất lượng cao đã tạo nên một khung chính sách ngày càng đồng bộ, rõ ràng và có chiều sâu.

Các nhà khoa học kỳ vọng Đại hội XIV

Các nhà khoa học kỳ vọng Đại hội XIV của Đảng sẽ là Đại hội của tầm nhìn, của đổi mới và của khát vọng phát triển

Kỳ vọng vào Đại hội XIV

Phóng viên: Tại Đại hội XIV đang diễn ra, đội ngũ trí thức và các nhà khoa học có những kỳ vọng gì, thưa Giáo sư?

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức: Với đội ngũ trí thức, nhà khoa học và những người làm giáo dục, Đại hội XIV được kỳ vọng sẽ tiếp tục khẳng định mạnh mẽ vai trò trung tâm của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong chiến lược phát triển quốc gia; đồng thời có những quyết sách mang tính đột phá hơn nữa về thể chế, cơ chế và đầu tư cho lĩnh vực này.

Trong đó, có những chính sách đủ mạnh để thu hút, trọng dụng và phát huy hiệu quả đội ngũ trí thức trong và ngoài nước. Các định hướng chiến lược mới của Đại hội lần này sẽ thể hiện tầm nhìn dài hạn, tư duy đổi mới và bản lĩnh chính trị của Đảng, mở ra một không gian phát triển mới, rộng lớn cho khoa học, công nghệ, giáo dục, đổi mới sáng tạo và kinh tế tri thức, đưa đất nước ta nhanh chóng trở thành quốc gia giàu mạnh, hùng cường và thịnh vượng.

Niềm tin vào tương lai

Phóng viên: Giáo sư có niềm tin như thế nào về tương lai của đất nước sau kỳ Đại hội này?

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức: Với tất cả niềm tin và trách nhiệm của một người làm khoa học, tôi kỳ vọng Đại hội XIV của Đảng sẽ là Đại hội của tầm nhìn, của đổi mới và của khát vọng phát triển, mở ra một chặng đường mới để Việt Nam khẳng định vị thế xứng đáng trong khu vực và trên trường quốc tế.

Với nền tảng đó, tôi hoàn toàn tin tưởng và cho rằng Việt Nam đang đứng trước cơ hội lịch sử để bứt phá, cất cánh mạnh mẽ và vững chắc, từng bước khẳng định vị thế quốc gia trong kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên của đất nước Việt Nam giàu mạnh, hùng cường và thịnh vượng, hội nhập sâu rộng, tự chủ công nghệ và phát triển bền vững.

Đại hội của tầm nhìn, đổi mới và khát vọng phát triển

Bước tiến lớn về nhận thức, phản ánh tầm nhìn dài hạn, sự nhạy bén của Đảng

Lịch sử đã chứng minh, các quốc gia phát triển trên thế giới như Anh Pháp, Hoa Kỳ…, gần đây là Trung Quốc và Hàn Quốc, đều rất quan tâm, chú trọng đầu tư cho khoa học công nghệ. Bước vào thế kỷ XXI, thế giới biến chuyển nhanh chóng dưới tác động của cách mạng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và kinh tế tri thức.

Trong bối cảnh đó, tháng 12/2024, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW, đặt ra mục tiêu lấy chuyển đổi số, công nghệ cao và đổi mới sáng tạo là 3 mũi nhọn đột phá đưa đất nước trở thành quốc gia phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên tới. Trong đó phát triển công nghệ cao, khoa học công nghệ được xác định là gốc, là giá trị cốt lõi.

Lãnh đạo Đảng, Nhà nước tại Đại hội XIV

Việc xác định khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực then chốt, là “chiếc đũa thần” của sự tăng trưởng, là nền tảng của năng lực cạnh tranh quốc gia và là trụ cột của phát triển bền vững thể hiện bước tiến lớn về nhận thức, phản ánh tầm nhìn dài hạn và sự nhạy bén của Đảng, Nhà nước trước những xu thế phát triển của thế giới.

Đồng thời, để thực hiện thành công mục tiêu trên, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW, xác định giáo dục đại học là quốc sách hàng đầu, các nhà khoa học, các trường đại học, viện nghiên cứu đóng vai trò then chốt.

Những chủ trương, nghị quyết quan trọng của Đảng và Nhà nước nêu trên thể hiện ý chí, quyết tâm chính trị rất cao trong việc đổi mới mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức, khoa học và công nghệ. Các định hướng về phát triển khoa học công nghệ, chuyển đổi số quốc gia, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, thúc đẩy nghiên cứu cơ bản gắn với ứng dụng, phát triển các công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, cũng như chiến lược phát triển giáo dục đại học và nhân lực chất lượng cao đã tạo nên một khung chính sách ngày càng đồng bộ, rõ ràng và có chiều sâu.

Đặc biệt, vai trò của đội ngũ trí thức, nhà khoa học, giảng viên đại học, chuyên gia công nghệ được nhấn mạnh không chỉ như lực lượng thực thi mà còn có vai trò then chốt, là chủ thể kiến tạo tri thức, tham gia hoạch định chính sách và dẫn dắt đổi mới.

Bên cạnh đó, việc ban hành rất nhanh và khẩn trương Luật Khoa học công nghệ và Đổi mới sáng tạo, Luật Giáo dục đại học cùng một loạt các luật, nghị định liên quan trong năm 2025 đã góp phần quan trọng tháo gỡ kịp thời những rào cản thể chế, tài chính, hành chính về quản lý khoa học, cơ chế tài chính cho nghiên cứu, thúc đẩy tự chủ đại học, gắn kết viện – trường – doanh nghiệp.

Các đại biểu biểu quyết tại Đại hội XIV

Mặc dù vẫn còn những thách thức trong quá trình triển khai, nhưng đã cho thấy hướng đi đúng đắn và quyết tâm, quyết liệt đổi mới từ gốc rễ. Đó là tiền đề quan trọng để khoa học Việt Nam từng bước hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới, đồng thời giải quyết hiệu quả những bài toán lớn của đất nước.

Mở ra không gian phát triển mới cho khoa học công nghệ, giáo dục, đổi mới sáng tạo và kinh tế tri thức

Trong bối cảnh đó, Đại hội XIV của Đảng ta có ý nghĩa đặc biệt, không chỉ là một dấu mốc chính trị quan trọng, mà còn là thời điểm then chốt để định hình tầm nhìn phát triển của Việt Nam trong nhiều thập niên tới.

Với đội ngũ trí thức, nhà khoa học và những người làm giáo dục, Đại hội XIV được kỳ vọng sẽ tiếp tục khẳng định mạnh mẽ vai trò trung tâm của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong chiến lược phát triển quốc gia; đồng thời có những quyết sách mang tính đột phá hơn nữa về thể chế, cơ chế và đầu tư cho lĩnh vực này. Trong đó, cần có những chính sách đủ mạnh để thu hút, trọng dụng và phát huy hiệu quả đội ngũ trí thức trong và ngoài nước.

Với tất cả niềm tin và trách nhiệm của một người làm khoa học, tôi kỳ vọng Đại hội XIV của Đảng sẽ là kỳ Đại hội của tầm nhìn, của đổi mới và của khát vọng phát triển, mở ra chặng đường mới để Việt Nam khẳng định vị thế xứng đáng trong khu vực và trên trường quốc tế, bằng chính trí tuệ, bản lĩnh và khát vọng vươn lên của dân tộc.

Các định hướng chiến lược mới của Đại hội lần này sẽ thể hiện tầm nhìn dài hạn, tư duy đổi mới và bản lĩnh chính trị của Đảng, mở ra một không gian phát triển mới – rộng lớn cho khoa học công nghệ, giáo dục, đổi mới sáng tạo và kinh tế tri thức, đưa đất nước ta nhanh chóng trở thành quốc gia giàu mạnh, hùng cường và thịnh vượng.

Đây chính là những trụ cột then chốt để khơi dậy mạnh mẽ nguồn lực con người Việt Nam, giải phóng tiềm năng sáng tạo của trí thức, doanh nghiệp và toàn xã hội.

Với nền tảng đó, tôi hoàn toàn tin tưởng và cho rằng Việt Nam đang đứng trước cơ hội lịch sử để bứt phá, cất cánh mạnh mẽ và vững chắc, từng bước khẳng định vị thế quốc gia trong kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên của đất nước Việt Nam giàu mạnh, hùng cường và thịnh vượng, hội nhập sâu rộng, tự chủ công nghệ và phát triển bền vững.

Đột phá khoa học và công nghệ: Động lực then chốt để phát triển đất nước

Vai trò then chốt

Lịch sử đã chứng minh rằng, các quốc gia phát triển trên thế giới như: Anh Pháp, Mỹ… gần đây là Trung Quốc và Hàn Quốc đều rất quan tâm và chú trọng đầu tư cho khoa học công nghệ. Bước vào thế kỷ XXI, thế giới biến chuyển nhanh chóng dưới tác động của Cách mạng khoa học – công nghệ, chuyển đổi số và kinh tế tri thức.

Trong bối cảnh đó, tháng 12/2024, Bộ chính trị đã ban hành Nghị quyết 57-NQ/TW, đặt ra mục tiêu lấy chuyển đổi số, công nghệ cao và đổi mới sáng tạo là 3 mũi nhọn đột phá đưa đất nước trở thành quốc gia phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên tới. Trong đó phát triển công nghệ cao, KHCN là gốc, là giá trị cốt lõi.

Việc xác định khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực then chốt, là “chiếc đũa thần” của sự tăng trưởng, là nền tảng của năng lực cạnh tranh quốc gia và là trụ cột của phát triển bền vững thể hiện bước tiến lớn về nhận thức, phản ánh tầm nhìn dài hạn và sự nhạy bén của Đảng, Nhà nước trước những xu thế phát triển của thế giới.

Đồng thời, để thực hiện thành công mục tiêu trên, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 71-NQ/TW, xác định giáo dục đại học là quốc sách hàng đầu, các nhà khoa học, các trường đại học, viện nghiên cứu đóng vai trò then chốt.

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức

Thời điểm then chốt

Những chủ trương, nghị quyết quan trọng của Đảng và Nhà nước nêu trên thể hiện ý chí, quyết tâm chính trị rất cao trong việc đổi mới mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức, khoa học và công nghệ.

Các định hướng về phát triển khoa học công nghệ, chuyển đổi số quốc gia, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, thúc đẩy nghiên cứu cơ bản gắn với ứng dụng, phát triển các công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, cũng như chiến lược phát triển giáo dục đại học và nhân lực chất lượng cao đã tạo nên một khung chính sách ngày càng đồng bộ, rõ ràng và có chiều sâu.

Đặc biệt, vai trò của đội ngũ trí thức, nhà khoa học, giảng viên đại học, chuyên gia công nghệ được nhấn mạnh không chỉ như lực lượng thực thi mà còn có vai trò then chốt, là chủ thể kiến tạo tri thức, tham gia hoạch định chính sách và dẫn dắt đổi mới.

Sinh viên Trường ĐH Khoa học và Công nghệ Hà Nội

Bên cạnh đó, việc ban hành rất nhanh và khẩn trương Luật Khoa học Công nghệ và Đổi mới sáng tạo, Luật Giáo dục đại học và một loạt các luật, nghị định liên quan trong năm 2025 đã tháo gỡ những rào cản thể chế, tài chính, hành chính về quản lý khoa học, cơ chế tài chính cho nghiên cứu, thúc đẩy tự chủ đại học, gắn kết Viện – Trường – Doanh nghiệp.

Mặc dù vẫn còn những thách thức trong quá trình triển khai, nhưng đã cho thấy hướng đi đúng đắn và quyết tâm, quyết liệt đổi mới từ gốc rễ. Đó là tiền đề quan trọng để Khoa học Việt Nam từng bước hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới, đồng thời giải quyết hiệu quả những bài toán lớn của đất nước.

Đại hội XIV của Đảng sắp diễn ra có ý nghĩa đặc biệt, không chỉ là một dấu mốc chính trị quan trọng, mà còn là thời điểm then chốt để định hình tầm nhìn phát triển của Việt Nam trong nhiều thập niên tới.

Với đội ngũ trí thức, nhà khoa học và những người làm giáo dục, Đại hội XIV được kỳ vọng sẽ tiếp tục khẳng định mạnh mẽ vai trò trung tâm của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong chiến lược phát triển quốc gia; đồng thời có những quyết sách mang tính đột phá hơn nữa về thể chế, cơ chế và đầu tư cho lĩnh vực này. Trong đó, có những chính sách đủ mạnh để thu hút, trọng dụng và phát huy hiệu quả đội ngũ trí thức trong và ngoài nước.

Với tất cả niềm tin và trách nhiệm của một người làm khoa học, tôi kỳ vọng Đại hội XIV của Đảng sẽ là Đại hội của tầm nhìn, của đổi mới và của khát vọng phát triển, mở ra một chặng đường mới để Việt Nam khẳng định vị thế xứng đáng trong khu vực và trên trường quốc tế, bằng chính trí tuệ, bản lĩnh và khát vọng vươn lên của dân tộc.

Các định hướng chiến lược mới của Đại hội lần này sẽ thể hiện tầm nhìn dài hạn, tư duy đổi mới và bản lĩnh chính trị của Đảng, mở ra một không gian phát triển mới – rộng lớn cho khoa học, công nghệ, giáo dục, đổi mới sáng tạo và kinh tế tri thức, đưa đất nước ta nhanh chóng trở thành quốc gia giàu mạnh, hùng cường và thịnh vượng.

Đây chính là những trụ cột then chốt để khơi dậy mạnh mẽ nguồn lực con người Việt Nam, giải phóng tiềm năng sáng tạo của trí thức, doanh nghiệp và toàn xã hội. Với nền tảng đó, tôi hoàn toàn tin tưởng và cho rằng Việt Nam đang đứng trước cơ hội lịch sử để bứt phá, cất cánh mạnh mẽ và vững chắc, từng bước khẳng định vị thế quốc gia trong kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên của đất nước Việt Nam giàu mạnh, hùng cường và thịnh vượng, hội nhập sâu rộng, tự chủ công nghệ và phát triển bền vững.

4 nút thắt cần tháo gỡ của giáo dục Việt Nam trong kỷ nguyên số

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức (ĐH Quốc gia Hà Nội) cho rằng, trong kỷ nguyên của trí tuệ nhân tạo, kinh tế tri thức và chuyển đổi số toàn diện, giáo dục Việt Nam đang đứng trước 4 nhóm thách thức lớn mang tính nền tảng.

Thách thức mang tính nền tảng

Thứ nhất, chất lượng nguồn nhân lực chưa theo kịp tốc độ phát triển của khoa học – công nghệ. Chúng ta đang thiếu đội ngũ giảng viên, chuyên gia và kỹ sư công nghệ cao có trình độ quốc tế, trong khi yêu cầu của thị trường lao động ngày càng khắt khe, đòi hỏi năng lực số, tư duy dữ liệu, và năng lực đổi mới sáng tạo ở mức độ sâu.

Thứ hai, cơ sở hạ tầng và dữ liệu cho chuyển đổi số và khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo trong đào tạo và đặc biệt là trong nghiên cứu – nhất là với hệ thống giáo dục bậc đại học còn rất thiếu và chưa đồng bộ.

Thứ ba, sự chênh lệch giữa các cơ sở giáo dục ngày càng rõ nét. Một số trường tiên phong đã mạnh dạn triển khai chuyển đổi số, đổi mới chương trình và mô hình quản trị; nhưng nhiều trường khác vẫn gặp khó khăn về hạ tầng, năng lực tài chính, cơ chế tự chủ và nguồn lực con người. Sự phân tầng này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện chính sách để đảm bảo công bằng cơ hội học tập và nâng cao mặt bằng chất lượng chung.

Thứ tư, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong giáo dục còn thiếu sự kết nối mạnh mẽ giữa nhà trường – doanh nghiệp – cơ quan quản lý – tổ chức nghiên cứu. Trong khi đây lại là điều kiện then chốt để đào tạo gắn với nhu cầu thực tiễn, để khoa học – công nghệ trở thành động lực tạo ra giá trị mới trong nền kinh tế.

“Điều quan trọng nhất lúc này là chúng ta cần một tư duy quản trị giáo dục mới, dựa trên dữ liệu và nền tảng trí tuệ nhân tạo, với các chuẩn mực quốc tế và năng lực cạnh tranh quốc gia. Giáo dục phải mở, linh hoạt, thông minh, hội nhập quốc tế, khuyến khích sáng tạo, tạo điều kiện để mỗi trường đại học phát triển mạnh mẽ bản sắc riêng nhưng vẫn đồng hành vì lợi ích chung của đất nước”, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức nhận định.

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức

Về vai trò của công nghệ trong đổi mới dạy – học, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức nhận định, công nghệ ngày nay không chỉ là công cụ hỗ trợ, mà đã trở thành lực lượng sản xuất mới, phương thức sản xuất mới của nền kinh tế số, trở thành nền tảng kiến tạo một mô hình giáo dục mới, với ba cấp độ then chốt. Trong đó, công nghệ mở rộng không gian và phương thức học tập: Nhờ nền tảng số, học liệu số, phòng thí nghiệm ảo và mô phỏng, sinh viên có thể học mọi lúc, mọi nơi, vượt ra khỏi giới hạn lớp học truyền thống. Điều này đem lại sự linh hoạt chưa từng có và giúp quá trình học tập trở nên liên tục.

Bên cạnh đó, công nghệ nâng cao chất lượng giảng dạy, nghiên cứu và đánh giá; Giúp giảng viên tối ưu hóa việc thiết kế bài giảng, kiểm tra đánh giá và quản trị lớp học trên cơ sở dữ liệu thực chứng. Đồng thời, công nghệ thúc đẩy sáng tạo và đổi mới trong giáo dục đại học: Những công cụ như mô phỏng số, thực tế ảo tăng cường, tự động hóa, phân tích dữ liệu lớn hay nền tảng học tập tương tác tạo điều kiện để nhà trường đổi mới chương trình, mở ngành mới, hình thành các phòng thí nghiệm số và gắn kết sâu hơn với doanh nghiệp, chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao cho nền kinh tế số – kinh tế tri thức.

Đổi mới tư duy – yếu tố quyết định

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức khẳng định, công nghệ chỉ là phương tiện, còn đổi mới tư duy mới là yếu tố quyết định giúp giáo dục thích ứng và bứt phá trong kỷ nguyên mới. Trong đó, đổi mới tư duy thể hiện ở bốn điểm cốt lõi.

Thứ nhất, như Nghị quyết 71/NQ-TW, phải xác định giáo dục đào tạo không chỉ là quốc sách quan trọng hàng đầu, mà còn là nhân tố quyết định tương lai, vận mệnh của dân tộc. Chính sự nhận thức này là gốc rễ, nền tảng cho những thay đổi.

Thứ hai, phải nhìn giáo dục như một hệ sinh thái mở, liên tục tương tác với thị trường lao động, doanh nghiệp và nhu cầu phát triển quốc gia. Kiến thức không còn là trung tâm; năng lực sáng tạo và khả năng thích ứng, tạo ra những giá trị mới là trọng tâm.

Thứ ba, chuyển từ “học để biết” sang “học để làm – học để sáng tạo”: Người học phải làm chủ quá trình học, tìm tòi, đặt câu hỏi, thử nghiệm và tạo giá trị mới. Đây là nền tảng quan trọng nhất để đào tạo nhân lực chất lượng cao trong thời đại đổi mới sáng tạo như hiện nay.

Thứ tư, chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ và kiến tạo: Nhà trường cần quản trị bằng dữ liệu; linh hoạt, trao quyền cho giảng viên và người học, coi công nghệ là công cụ nâng tầm chất lượng đào tạo, nghiên cứu và quản trị, chứ không chỉ là nhiệm vụ triển khai.

“Công nghệ có thể thay đổi hạ tầng; nhưng chỉ có đổi mới nhận thức, đổi mới tư duy mới có thể tạo nên những thay đổi tương lai của giáo dục Việt Nam”, GS Nguyễn Đình Đức nhấn mạnh.

Ngoài ra, GS Nguyễn Đình Đức cho rằng, việc cân bằng giữa công nghệ và con người không phải là lựa chọn, mà là nghệ thuật kết hợp sức mạnh của cả hai để nâng cao chất lượng giáo dục. Công nghệ mở ra khả năng mới, nhưng con người mới là chủ thể quyết định ý nghĩa và giá trị của quá trình học tập.

Ngành giáo dục cần tuân thủ những nguyên tắc cốt lõi để duy trì sự cân bằng này. Đặc biệt là công nghệ phải phục vụ con người, không thay thế vai trò của người thầy. AI có thể hỗ trợ phân tích dữ liệu, cá thể hóa học tập, tự động hóa đánh giá; nhưng chính người thầy mới truyền cảm hứng, hoài bão, định hướng giá trị, xây dựng nhân cách và nuôi dưỡng khát vọng sáng tạo cho học trò. Đây chính là những điều mà công nghệ và trí tuệ nhân tạo không thể thay thế.

Đồng thời duy trì trọng tâm vào phẩm chất và năng lực nhân văn: Trong thời đại dữ liệu lớn, người học càng cần tư duy phản biện, sáng tạo, trách nhiệm xã hội, năng lực hợp tác, năng lực thích nghi, năng lực tự rèn luyện, tu dưỡng và đạo đức nghề nghiệp. Đây là những yếu tố tạo nên chiều sâu của giáo dục, giúp con người làm chủ công nghệ thay vì bị công nghệ chi phối.

Cùng với đó, xây dựng môi trường học thuật kết hợp hài hòa giữa số hóa và tương tác trực tiếp. Sự cân bằng được đảm bảo khi công nghệ nâng tầm vai trò con người, và con người biết sử dụng công nghệ như công cụ để phát triển trí tuệ, nhân cách và năng lực sáng tạo.

Theo GS Nguyễn Đình Đức, bức tranh giáo dục trong tương lai là một hệ sinh thái nơi công nghệ và trí tuệ nhân tạo nâng tầm con người, vì hạnh phúc của con người và vì sự giàu mạnh và phồn vinh của quốc gia. Giáo dục Việt Nam sẽ có những bước phát triển vượt bậc, và sẽ có những trường đại học Việt Nam lọt top 100 thế giới. Con người sử dụng công nghệ và AI để phát triển trí tuệ, nâng tầm sáng tạo và tạo nên những giá trị mới cho sự phát triển đột phá kỳ diệu của nước Việt Nam hùng cường trong kỷ nguyên mới.

Công nghệ chỉ là phương tiện, đổi mới tư duy mới là yếu tố quyết định giúp giáo dục bứt phá

(CLO) Công nghệ chính là động cơ đổi mới, là “môi trường học thuật mới, phương thức giảng dạy và học tập mới” nhưng cũng chỉ là phương tiện, còn đổi mới tư duy mới là yếu tố quyết định giúp giáo dục thích ứng và bứt phá trong kỷ nguyên mới.

Trao đổi với phóng viên Báo Nhà báo và Công luận, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội khẳng định, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và kinh tế số đang định hình lại mọi lĩnh vực, nếu tư duy giáo dục vẫn dừng lại ở mô hình truyền thống là truyền thụ, kiểm tra, tái hiện kiến thức thì dù sử dụng công nghệ hiện đại đến đâu, chất lượng giáo dục cũng không thể thay đổi.

Trong bối cảnh kỷ nguyên mới, giáo dục không chỉ dừng lại ở đổi mới công nghệ mà đòi hỏi sự chuyển biến mạnh mẽ về tư duy

Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và kinh tế số đang định hình lại mọi lĩnh vực, nếu tư duy giáo dục vẫn dừng lại ở mô hình truyền thống truyền thụ, kiểm tra, tái hiện kiến thức thì dù sử dụng công nghệ hiện đại đến đâu, chất lượng giáo dục cũng không thể thay đổi.

Đổi mới tư duy thể hiện ở bốn điểm cốt lõi:

Thứ nhất, như Nghị quyết 71/NQ-TW, phải xác định giáo dục giáo dục đào tạo không chỉ là quốc sách quan trọng hàng đầu, mà còn là nhân tố quyết định tương lai, vận mệnh của dân tộc. Chính sự nhận thức này là gốc rễ, nền tảng cho những thay đổi.

Thứ hai, phải nhìn giáo dục như một hệ sinh thái mở, liên tục tương tác với thị trường lao động, doanh nghiệp và nhu cầu phát triển quốc gia. Kiến thức không còn là trung tâm; năng lực sáng tạo và khả năng thích ứng, tạo ra những giá trị mới là trọng tâm.

Thứ ba, chuyển từ “học để biết” sang “học để làm – học để sáng tạo”: Người học phải làm chủ quá trình học, tìm tòi, đặt câu hỏi, thử nghiệm và tạo giá trị mới. Đây là nền tảng quan trọng nhất để đào tạo nhân lực chất lượng cao trong thời đại đổi mới sáng tạo như hiện nay.

Thứ tư, chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ và kiến tạo: Nhà trường cần quản trị bằng dữ liệu; linh hoạt, trao quyền cho giảng viên và người học, coi công nghệ là công cụ nâng tầm chất lượng đào tạo, nghiên cứu và quản trị, chứ không chỉ là nhiệm vụ triển khai.

Công nghệ có thể thay đổi hạ tầng; nhưng chỉ có đổi mới nhận thức, đổi mới tư duy mới có thể tạo nên những thay đổi tương lai của giáo dục Việt Nam.

Viện Trí tuệ nhân tạo UET

Làm thế nào để đảm bảo sự cân bằng giữa công nghệ và yếu tố con người?

Cân bằng giữa công nghệ và con người không phải là lựa chọn, mà là nghệ thuật kết hợp sức mạnh của cả hai để nâng cao chất lượng giáo dục. Công nghệ mở ra khả năng mới, nhưng con người mới là chủ thể quyết định ý nghĩa và giá trị của quá trình học tập.

Cần có 3 nguyên tắc cốt lõi để duy trì sự cân bằng này:

Thứ nhất, công nghệ phải phục vụ con người, không thay thế vai trò của người thầy. AI có thể hỗ trợ phân tích dữ liệu, cá thể hóa học tập, tự động hóa đánh giá; nhưng chính người thầy mới truyền cảm hứng, hoài bão, định hướng giá trị, xây dựng nhân cách và nuôi dưỡng khát vọng sáng tạo cho học trò. Đây chính là những điều mà công nghệ và trí tuệ nhân tạo không thể thay thế.

Thứ hai, duy trì trọng tâm vào phẩm chất và năng lực nhân văn: Trong thời đại dữ liệu lớn, người học càng cần tư duy phản biện, sáng tạo, trách nhiệm xã hội, năng lực hợp tác, năng lực thích nghi, năng lực tự rèn luyện, tu dưỡng và đạo đức nghề nghiệp. Đây là những yếu tố tạo nên chiều sâu của giáo dục, giúp con người làm chủ công nghệ thay vì bị công nghệ chi phối.

Thứ ba, xây dựng môi trường học thuật kết hợp hài hòa giữa số hóa và tương tác trực tiếp: Công nghệ giúp tăng hiệu quả và mở rộng khả năng học tập; nhưng trải nghiệm lớp học, trao đổi học thuật và các hoạt động thực tế vẫn là những không gian quan trọng để hình thành trải nghiệm sống, kỹ năng mềm, sự tương tác giữa con người với con người và xây dựng nên văn hóa học thuật của nhà trường.

Sự cân bằng được đảm bảo khi công nghệ nâng tầm vai trò con người, và con người biết sử dụng công nghệ như công cụ để phát triển trí tuệ, nhân cách và năng lực sáng tạo.

Giáo dục kỷ nguyên mới

Những thay đổi nào là cấp thiết nhất để giáo dục thích ứng với thời đại?

Để giáo dục thực sự thích ứng với thời đại mới, điều quan trọng không chỉ là cải tiến kỹ thuật, mà là kiến tạo lại toàn bộ hệ sinh thái giáo dục theo những trụ cột mang tính nền tảng.

Cần đổi mới tư duy quản trị và thiết kế lại mô hình đại học: Quản trị phải dựa trên dữ liệu, theo chuẩn mực quốc tế, trao quyền tự chủ cho các trường và các khoa để linh hoạt mở ngành, cập nhật chương trình và thu hút nhân tài. Đây là điều kiện tiên quyết để giáo dục chuyển từ “quản lý” sang “kiến tạo” trong bối cảnh hiện nay.

Hiện đại hóa chương trình đào tạo theo hướng: đẩy mạnh STEM, giữ được nền tảng khoa học cơ bản mạnh, vì không thể làm chủ công nghệ cao, công nghệ lõi nếu nền tảng STEM và khoa học cơ bản không đủ mạnh, đồng thời lại phải có tính liên ngành và xuyên ngành, gắn với thực tiễn, phát huy tối đa năng lực người học và gắn với hoạt động đổi mới sáng tạo.

Thay vì truyền thụ kiến thức, chương trình đào tạo phải tập trung vào năng lực phân tích hệ thống, tư duy phản biện, năng lực số, phương pháp nghiên cứu, kỹ năng giải quyết vấn đề phức tạp và tinh thần đổi mới sáng tạo. Đây là bộ kỹ năng nền của lực lượng lao động trong nền kinh tế số, kinh tế tri thức.

Ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số và AI trong hoạt động động giảng dạy – học tập và nghiên cứu: Công nghệ và AI cần được tích hợp vào toàn bộ quy trình: Quản trị nhà trường, quản trị học tập, giảng dạy, nghiên cứu, học liệu, đánh giá và hỗ trợ cá thể hóa lộ trình học tập. Điều này giúp nâng cao chất lượng, phát huy tối đa năng lực mỗi cá nhân và thu hẹp khoảng cách giữa các cơ sở đào tạo.

Olympic AI Việt Nam

Chìa khóa thành công của đổi mới là phát triển đội ngũ giảng viên công nghệ cao, có năng lực nghiên cứu mạnh: Giảng viên phải được bồi dưỡng kỹ năng số, phương pháp giảng dạy – nghiên cứu mới, khả năng ứng dụng AI và thúc đẩy nghiên cứu liên ngành, xuyên ngành để dẫn dắt người học. Không có đội ngũ này, mọi cải cách khác khó có thể bền vững.

Kết nối sâu giữa nhà trường với doanh nghiệp và xã hội: Chương trình phải gắn với nhu cầu thị trường lao động, phòng thí nghiệm phải gắn với doanh nghiệp, sinh viên học phải đi đôi với thực hành và đổi mới sáng tạo. Đây là cách rút ngắn khoảng cách giữa đào tạo và đáp ứng nhu cầu nhân lực quốc gia.

Những thay đổi này không rời rạc; chúng tạo thành một hệ thống, quyết định khả năng cạnh tranh và tầm vóc của giáo dục Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

Bức tranh giáo dục trong tương lai của Việt Nam

Bức tranh giáo dục Việt Nam trong tương lai sẽ là một hệ thống mở – linh hoạt – thông minh và có khả năng thích ứng cao với sự biến đổi của khoa học – công nghệ và nhu cầu phát triển quốc gia.

Nền giáo dục tương lai có 3 tầng phát triển:

Tầng thứ nhất, giáo dục sẽ vận hành trên nền tảng số và dữ liệu: AI, phân tích dữ liệu lớn và các hệ thống quản trị thông minh sẽ hỗ trợ cá thể hóa toàn bộ trải nghiệm học tập, từ thiết kế chương trình, đánh giá năng lực, đến định hướng nghề nghiệp. Người học sẽ có một “hồ sơ năng lực số” được cập nhật liên tục ngay từ khi bắt đầu cắp sách đến trường để đồng hành suốt cuộc đời.

Tầng thứ hai, ranh giới giữa học trong nhà trường và học trong thực tiễn sẽ xóa nhòa: Nhà trường kết nối chặt chẽ với doanh nghiệp, các viện nghiên cứu, các trung tâm đổi mới sáng tạo và với các chủ thể trong sự vận hành của nền kinh tế. Mọi chương trình đào tạo đều tích hợp với STEM, với thực hành, mô phỏng, học qua dự án và đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp. Sinh viên không chỉ tiếp nhận tri thức, mà trở thành đồng kiến tạo tri thức.

Tầng thứ ba, giáo dục tương lai định hình con người phát triển toàn diện: Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo và tự động hóa ngày càng mạnh, giá trị của con người nằm ở tư duy phản biện, kỹ năng sáng tạo, ý chí, hoài bão, năng lực hợp tác và những phẩm chất nhân văn. Giáo dục sẽ không dừng lại ở kỹ năng nghề nghiệp, mà nuôi dưỡng bản lĩnh, trách nhiệm công dân và khả năng thích ứng trước những thay đổi và môi trường toàn cầu.

Góp ý văn kiện Đại hội XIV của Đảng: Việt Nam không chỉ tham gia hội nhập mà có thể định hình hội nhập

(CLO) Các trường đại học cần chú trọng công bố quốc tế, xếp hạng và tạo ra các sản phẩm khoa học – công nghệ có giá trị thực tiễn, góp phần giải quyết các thách thức khu vực như năng lượng, môi trường, đô thị thông minh.

Trao đổi với phóng viên Báo Nhà báo và Công luận, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội đã chỉ ra 4 hướng đột phá then chốt để đạt mục tiêu các cơ sở giáo dục đại học thành trung tâm khoa học – công nghệ tầm khu vực, trở thành đối tác ngang hàng trong chuỗi tri thức toàn cầu.

Văn kiện xác định giáo dục là quốc sách hàng đầu, nhưng chất lượng và điều kiện học tập giữa các vùng miền vẫn chênh lệch sâu sắc. Theo Giáo sư, đâu là “điểm nghẽn” cần tháo gỡ để không ai bị bỏ lại phía sau?

Nghị quyết 71/NQ-TW xác định giáo dục là nền tảng giáo dục đào tạo không chỉ là quốc sách quan trọng hàng đầu, mà còn là nhân tố quyết định tương lai, vận mệnh của dân tộc. Những năm qua, ngành giáo dục và đào tạo của chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng.

Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy sự chênh lệch về chất lượng và điều kiện học tập giữa các vùng, đặc biệt là giữa thành thị và nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, vẫn còn rất lớn. Theo tôi, có ba “điểm nghẽn” chủ yếu cần được tháo gỡ.

Thứ nhất, hạ tầng giáo dục chưa đồng đều: nhiều địa phương còn thiếu trường lớp đạt chuẩn, cơ sở vật chất xuống cấp, thiết bị dạy học lạc hậu, và điều kiện tiếp cận công nghệ thông tin còn hạn chế.

Thứ hai, nguồn nhân lực giáo viên phân bố không cân đối: giáo viên giỏi, giàu kinh nghiệm chủ yếu tập trung ở các đô thị lớn, trong khi vùng khó khăn thiếu giáo viên cả về số lượng và chất lượng, ảnh hưởng trực tiếp đến cơ hội học tập của học sinh.

Thứ ba, chính sách đầu tư và cơ chế hỗ trợ còn manh mún: chúng ta chưa có chiến lược tổng thể và bền vững để bảo đảm mọi học sinh, dù ở bất kỳ nơi nào, đều được tiếp cận giáo dục có chất lượng tương đương.

Vì vậy, cần đột phá về đầu tư hạ tầng số và đào tạo giáo viên, tăng cường ứng dụng công nghệ và mô hình giáo dục linh hoạt (ví dụ: lớp học kết nối, học liệu mở, nền tảng trực tuyến dùng chung), đồng thời xây dựng chính sách thu hút, đãi ngộ giáo viên về vùng khó khăn. Khi đó, giáo dục thực sự mới trở thành “quốc sách hàng đầu” và nhanh chóng thu hẹp chênh lệch về chất lượng giáo dục giữa các vùng miền.

Mục tiêu đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai, phát triển năng lực số ngay từ phổ thông đặt ra rất cao. Nếu thiếu giáo viên đạt chuẩn và hạ tầng đồng bộ, Việt Nam nên ưu tiên thực hiện theo lộ trình nào để tránh hình thức?

Đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai và phát triển năng lực số ngay từ phổ thông là một định hướng đúng đắn, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Việt Nam trong hội nhập quốc tế và chuyển đổi số quốc gia. Tuy nhiên, để tránh tình trạng triển khai hình thức, chúng ta cần thực hiện theo lộ trình hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm và gắn với thực tế năng lực từng vùng.

Theo tôi, lộ trình nên tập trung vào 3 giai đoạn chính:

Thứ nhất, xây dựng nền tảng hạ tầng và chuẩn năng lực giáo viên tiếng Anh trong các trường phổ thông và cả ở bậc đại học. Giáo dục đại học phải đi đầu và tiên phong, đồng thời trước khi mở rộng đại trà, cần đầu tư đồng bộ vào hệ thống hạ tầng số ở các trường phổ thông, đặc biệt ở vùng nông thôn, miền núi; đồng thời tập trung bồi dưỡng giáo viên tiếng Anh và tin học đạt chuẩn quốc tế, ưu tiên hình thức đào tạo trực tuyến kết hợp và đặc biệt là ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong giảng dạy, kiểm tra đánh giá để tiết kiệm chi phí và mở rộng tiếp cận.

Thứ hai, thí điểm và nhân rộng có chọn lọc. Nên triển khai thí điểm tại các đô thị lớn và một số tỉnh đại diện cho từng vùng miền để đánh giá hiệu quả, sau đó rút kinh nghiệm và nhân rộng, thay vì triển khai ồ ạt.

Thứ ba, phát triển hệ sinh thái học tập số và học liệu mở, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ mới và trí tuệ nhân tạo trong dạy và học tiếng Anh. Cần xây dựng kho học liệu song ngữ, nền tảng dạy – học tiếng Anh và năng lực số dùng chung toàn quốc, để mọi học sinh, dù ở đâu, cũng có thể học cùng một nội dung chuẩn.

Quan trọng hơn cả là xem tiếng Anh, ngoại ngữ và năng lực số không phải là môn học riêng biệt, mà là công cụ để học các môn khác, để sống và làm việc trong môi trường toàn cầu hóa. Khi đó, việc học tiếng Anh và kỹ năng số mới thật sự đi vào chiều sâu và bền vững.

Việc đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ 2 trong hệ thống giáo dục ở Việt Nam là việc lớn, hệ trọng, lâu dài. Bộ Giáo dục và Đào tạo nên thành lập Ban chỉ đạo để triển khai thực hiện.

Chính sách ưu đãi vượt trội dành cho đội ngũ nhà giáo và nhà khoa học tiếp tục được nhấn mạnh. Theo Giáo sư, cơ chế nào phải thay đổi đầu tiên để lời hứa “trọng dụng nhân tài” không dừng lại ở văn bản?

Đúng như nhiều văn kiện của Đảng và Nhà nước đã khẳng định, “trọng dụng nhân tài” và “đãi ngộ người thầy” là nền tảng của phát triển bền vững quốc gia. Gần đây, sau Nghị Quyết 57/NQ-TW, Nhà nước đã có nhiều chính sách cụ thể như Nghị định số 179/2024/NĐ-CP ngày 31/12/2024 của Chính phủ, Luật KHCN & ĐMST mới được Quốc hội ban hành năm 2025 và gần đây nhất là Quyết định số 983/QĐ-BNV phê duyệt lĩnh vực và vị trí việc làm ưu tiên thu hút, trọng dụng người có tài năng của Bộ Nội vụ giai đoạn 2025 – 2030.

Tuy nhiên, để những chủ trương ấy không chỉ dừng lại ở khẩu hiệu hay văn bản, điều quan trọng nhất là phải thay đổi cơ chế thực thi – đặc biệt là cơ chế sử dụng, đánh giá và đãi ngộ đội ngũ trí thức.

Văn kiện đề ra mục tiêu các cơ sở giáo dục đại học trở thành trung tâm khoa học – công nghệ tầm khu vực. Theo Giáo sư, đâu là những đột phá then chốt để đạt được điều này?

Để các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam thực sự trở thành trung tâm khoa học – công nghệ tầm khu vực, trở thành đối tác ngang hàng trong chuỗi tri thức toàn cầu, theo tôi cần có 4 hướng đột phá then chốt:

Thứ nhất, tăng cường đầu tư và tự chủ thực chất cho các trường đại học nghiên cứu. Các trường đại học nghiên cứu cần được đầu tư mạnh về cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm hiện đại và nguồn kinh phí ổn định cho nghiên cứu. Đồng thời, cần trao quyền tự chủ thực sự về tài chính, nhân sự và học thuật, để các trường có thể chủ động xây dựng chiến lược phát triển riêng, thu hút nhân tài và hợp tác quốc tế.

Thứ hai, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo gắn kết đại học – doanh nghiệp – chính phủ. Các trường đại học cần trở thành trung tâm của hệ sinh thái khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo, nơi nghiên cứu khoa học được chuyển hóa thành sản phẩm, dịch vụ có giá trị thực tiễn. Điều này đòi hỏi cơ chế linh hoạt để doanh nghiệp tham gia sâu vào đào tạo và nghiên cứu, đồng thời chính phủ cần có chính sách ưu đãi, hỗ trợ chuyển giao công nghệ.

Thứ ba, chú trọng công bố quốc tế, xếp hạng và tạo ra các sản phẩm khoa học – công nghệ có giá trị thực tiễn. Các trường đại học cần đặt mục tiêu rõ ràng về số lượng và chất lượng công bố khoa học trên các tạp chí uy tín quốc tế, đồng thời tham gia tích cực vào các bảng xếp hạng đại học thế giới. Quan trọng hơn, cần tạo ra các sản phẩm nghiên cứu có tác động thực tế, góp phần giải quyết các thách thức của khu vực như năng lượng, môi trường, đô thị thông minh.

Thứ tư, mở rộng hợp tác quốc tế và thu hút nhân tài toàn cầu. Việt Nam không chỉ “tham gia hội nhập” mà có thể “định hình hội nhập” bằng cách chủ động thiết lập các mạng lưới nghiên cứu quốc tế, đồng tổ chức các hội nghị, hội thảo khoa học lớn, và thu hút các nhà khoa học hàng đầu thế giới về làm việc tại Việt Nam. Cần có chính sách đãi ngộ đặc biệt và môi trường làm việc chuyên nghiệp để giữ chân nhân tài trong nước và thu hút nhân tài quốc tế.

Khoa học không chỉ thúc đẩy kinh tế mà còn là nền tảng của một quốc gia tri thức, sáng tạo

GDVN – Đến năm 2050, Việt Nam cần định vị khoa học không chỉ thúc đẩy kinh tế mà là nền tảng của quốc gia tri thức, sáng tạo và có trách nhiệm toàn cầu.

Ngày Khoa học Thế giới vì Hòa bình và Phát triển (World Science Day for Peace and Development) (10/11) được UNESCO công bố vào năm 2001. Chủ đề của lễ kỷ niệm năm 2025 là Niềm tin, chuyển đổi và ngày mai: Khoa học chúng ta cần cho năm 2050.

Nhân dịp này, phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam đã có cuộc trò chuyện với Giáo sư, Tiến sĩ Khoa học Nguyễn Đình Đức – nguyên Chủ tịch Hội đồng trường, Chủ nhiệm Khoa Công nghệ xây dựng – Giao thông, Trường Đại học Công nghệ (Đại học Quốc gia Hà Nội); top 10.000 nhà khoa học có tầm ảnh hưởng nhất thế giới năm 2025 để lắng nghe những chia sẻ của thầy.

Khoa học công nghệ là động lực của sự phát triển

Đề cập đến yếu tố then chốt để xây dựng niềm tin xã hội vào khoa học, Giáo sư, Tiến sĩ Khoa học Nguyễn Đình Đức chia sẻ: Niềm tin này không thể hình thành chỉ từ những công trình nghiên cứu hay bài báo khoa học, mà phải đến từ mối liên kết hữu cơ giữa tri thức – hành động – con người. Trong bối cảnh thế giới đang chịu tác động của khủng hoảng niềm tin như: sử dụng công nghệ cao sai mục đích, trí tuệ nhân tạo với thông tin sai lệch và các biến động toàn cầu, thì điều then chốt để khôi phục niềm tin là đưa khoa học trở lại thành động lực quan trọng nhất để thúc đẩy phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội.

Khoa học phải trở thành trung tâm của đời sống xã hội – nơi khoa học không chỉ giải thích thế giới, mà còn giúp định hướng hành động vì tương lai bền vững của nhân loại. Nhật Bản đề ra mục tiêu xây dựng xã hội 5.0 là với mục tiêu như vậy.

Niềm tin chỉ bền vững khi khoa học minh bạch, có trách nhiệm và gắn với con người, phục vụ cho lợi ích của con người và mang lại phồn vinh của xã hội. Trách nhiệm ở đây là song hành giữa khoa học (trí tuệ) và đạo đức, giữa đổi mới và công bằng, giữa khát vọng phát triển và giới hạn của tự nhiên. Khoa học cần nói bằng ngôn ngữ của cộng đồng, không chỉ của phòng thí nghiệm; cần được truyền thông đúng đắn, được giáo dục khai phóng nuôi dưỡng, và được chính sách bảo vệ khỏi sự thao túng bởi những mục đích cực đoạn và lợi ích ngắn hạn.

Chính sức mạnh của khoa học công nghệ làm nên những điều kỳ diệu chưa từng có (chẳng hạn như siêu trí tuệ nhân tạo), thay đổi chất lượng cuộc sống và của cải vật chất của xã hội là nền tảng của niềm tin của con người vào khoa học.

Với Việt Nam, niềm tin ấy đã được thể hiện trong Nghị quyết 57/NQ-TW, khẳng định khoa học công nghệ và chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo chính là động lực của sự phát triển đột phá, là con đường duy nhất, là chiếc đũa thần để dân tộc ta giàu mạnh, hùng cường. Dự thảo báo cáo chính trị tại Đại hội XIV của Đảng cũng khẳng định hệ giá trị văn hóa Việt Nam là: Dân tộc, dân chủ, nhân văn và khoa học”.

Thầy Đức phân tích thêm, tại Việt Nam, khoa học đã bước ra khỏi phòng thí nghiệm và thực sự thay đổi đời sống người dân. Khoa học công nghệ đã góp phần đắc lực và hiệu quả trong các cuộc kháng chiến giành độc lập, tự do, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Có thể kể ra một số thành tựu tiêu biểu như việc ứng dụng kỹ thuật ghép đa nội tạng trong các bệnh viện quốc gia, giúp hàng ngàn người có cơ hội sống mới; đến công nghệ nuôi thủy sản sạch giúp người nông dân miền Tây nâng cao giá trị sản phẩm; hay sử dụng trí tuệ nhân tạo trong việc giám sát môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học… Những ví dụ này minh chứng rằng khi khoa học được gắn kết với chính sách và cộng đồng, nó trở thành động lực mạnh mẽ cho phát triển bền vững và công bằng.

Đảng và Nhà nước luôn xác định giáo dục là then chốt, khoa học công nghệ là động lực của sự phát triển. Từ thực tiễn phát triển của Việt Nam, có thể thấy rõ rằng khoa học không chỉ là động lực, là công cụ thúc đẩy phát triển đất nước, mà còn là trụ cột của sự ổn định và văn minh xã hội. Khi khoa học được đặt ở trung tâm của hoạch định chính sách, các quyết định trở nên minh bạch hơn, công bằng hơn và hướng đến lợi ích lâu dài của cộng đồng.

Chính nhờ cách tiếp cận dựa trên bằng chứng và tri thức, trên cơ sở khoa học, Việt Nam đã từng bước kiểm soát dịch bệnh, ứng phó biến đổi khí hậu, phát triển hạ tầng bền vững và thúc đẩy chuyển đổi số trong giáo dục, y tế, nông nghiệp rất hiệu quả trong những năm vừa qua.

Khoa học còn giúp giảm bất bình đẳng không chỉ bằng công nghệ, mà bằng tri thức – khi mọi người dân, dù ở thành thị hay vùng sâu, vùng xa đều có cơ hội tiếp cận thông tin, giáo dục và cơ hội đổi đời. Khi tri thức được minh bạch và dân chủ hóa, niềm tin xã hội sẽ lớn mạnh, và khoảng cách phát triển được thu hẹp, quốc gia hưng thịnh.

“Để khoa học thực sự trở thành nền tảng của phát triển bền vững và hòa bình, điều cốt lõi là xây dựng một hệ sinh thái khoa học trên nền tảng nhân văn, nơi nhà khoa học được tôn trọng, tri thức được sử dụng có trách nhiệm, và các chính sách dựa trên các cơ sở khoa học, không dựa trên áp đặt chủ quan duy ý chí.

Cần kết nối ba chủ thể lớn: Nhà nước – doanh nghiệp – trường đại học, để tạo dòng chảy tri thức từ phòng thí nghiệm đến đời sống, từ nhà trường, nhà khoa học đến thượng tầng xã hội, biến khoa học thành đổi mới sáng tạo, thay đổi căn bản phương thức và lực lượng sản xuất, từ đó đem lại giá trị gia tăng, của cải vật chất và giá trị tinh thần cho xã hội.

Khi khoa học được định hướng bởi trách nhiệm xã hội và những giá trị nhân văn, gắn với văn hóa và truyền, không chỉ giúp một quốc gia phát triển mạnh, mà còn phát triển bền vững, và cũng từ đó góp phần để thế giới ngày càng hòa bình, ổn định, công bằng và thịnh vượng chung” – vị Giáo sư nhấn mạnh.

Bốn trụ cột khoa học cần được ưu tiên chiến lược

Trong bối cảnh hợp tác quốc tế về khoa học ngày càng mở rộng, Giáo sư, Tiến sĩ Khoa học Nguyễn Đình Đức bày tỏ: “Việt Nam đang bước vào thời kỳ khoa học không còn bị giới hạn bởi biên giới, mà được kết nối bằng tri thức, dữ liệu và niềm tin. Trong không gian đó, hợp tác quốc tế chính là con đường ngắn nhất để đi nhanh, đi xa và đi đúng hướng.

Cơ hội lớn nhất của Việt Nam nằm ở thế hệ khoa học trẻ giàu năng lực, có tư duy toàn cầu và ý thức phụng sự xã hội, cùng với hệ sinh thái nghiên cứu đang dần chuyển mình theo chuẩn quốc tế. Nhiều viện, trường và nhà khoa học Việt Nam đã tham gia sâu vào các mạng lưới nghiên cứu toàn cầu:

Việt Nam là đối tác tích cực trong các chương trình của UNESCO, ASEAN COSTI, và Horizon Europe;

Các nhóm nghiên cứu mạnh của Việt Nam trong lĩnh vực vật liệu, năng lượng, và AI đã có công bố chung với các đại học hàng đầu như Đại học Tokyo, Đại học Melbourne, Đại học Oxford, Đại học Toronto… Một số lĩnh vực khoa học của Việt Nam như toán học, vật lý, khoa học vật liệu… đã trong top xếp hạng 200 – 500 của thế giới.

Những công trình tiêu biểu về vật liệu compozit 3 pha, cấu trúc auxetic, AI trong y sinh học và nông nghiệp thông minh… đã giúp khẳng định vị thế khoa học Việt Nam trong bản đồ thế giới”.

Bên cạnh những thuận lợi đó, thầy Đứcchia sẻ thêm, thách thức lớn nhất không nằm ở năng lực nghiên cứu, mà còn ở chất lượng nguồn nhân lực, ở niềm tin và cơ chế chia sẻ tri thức. Để hội nhập sâu, chúng ta cần có nguồn nhân lực chất lượng cao đủ mạnh; phong phú và minh bạch trong dữ liệu; chuẩn mực trong đạo đức khoa học, và tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ.

Bên cạnh đó, cần có chính sách khuyến khích trao đổi học giả hai chiều, tài trợ dài hạn cho nhóm nghiên cứu mạnh liên quốc gia, và hạ tầng dữ liệu mở để kết nối tri thức Việt Nam với thế giới.

Ngoài hoài bão hội nhập tri thức với thế giới, phải mạnh dạn dám cùng thế giới giải quyết các vấn đề chung toàn cầu, như biến đổi khí hậu, an toàn thông tin, an ninh năng lượng đến sức khỏe cộng đồng… và chính trên những cơ sở này, niềm tin vào khoa học công nghệ sẽ trở thành “hạ tầng mềm” quan trọng nhất giúp khoa học Việt Nam vươn tầm và hội nhập, sánh vai với quốc tế.

Bàn luận thêm về những lĩnh vực khoa học cần được ưu tiên trong tầm nhìn xa đến năm 2050, Giáo sư, Tiến sĩ Khoa học Nguyễn Đình Đức nói: “Mới đây, Thủ tướng đã ban hành Quyết định 1131/QĐ-TTg ngày 12/6/2025 quy định 11 nhóm công nghệ chiến lược, bao gồm các lĩnh vực như Trí tuệ nhân tạo, công nghệ điện toán đám mây, chip bán dẫn, an ninh mạng, y – sinh học tiên tiến…

Tôi cho rằng các lĩnh này đã bao trùm đầy đủ những lĩnh vực khoa học công nghệ ưu tiên của Việt Nam trong giai đoạn tới. Đến năm 2050, Việt Nam cần định vị khoa học không chỉ như động lực phát triển kinh tế, mà như nền tảng của một quốc gia tri thức, sáng tạo và có trách nhiệm toàn cầu”.

Thầy Đức chỉ ra, để đạt mục tiêu trên, cùng với Quyết định 1131/QĐ-TTg, có thể phân chia thành bốn trụ cột khoa học cần được ưu tiên chiến lược.

Khoa học về năng lượng hạt nhân, năng lượng xanh và chuyển đổi khí hậu – đây là sống còn. Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề bởi biến đổi khí hậu, nên bên cạnh việc phát triển năng lượng hạt nhân, thì năng lượng tái tạo (gió, mặt trời, hydro xanh), hydrogen, lưu trữ năng lượng, và công nghệ giảm phát thải carbon phải được coi là chương trình quốc gia cấp chiến lược.

Khoa học dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và công nghệ số, xa hơn là công nghệ lượng tử – là hạ tầng của mọi lĩnh vực khác. AI không chỉ hỗ trợ sản xuất, mà còn giúp dự báo thiên tai, quy hoạch đô thị thông minh, chẩn đoán bệnh sớm, và tối ưu hóa giáo dục cá nhân hóa. Nếu được quản trị bằng đạo đức và minh bạch, AI sẽ là công cụ phát triển kinh tế, trở thành một trong những phương thức sản xuất và lực lượng lao động mới, phục vụ xã hội thông minh 5.0, kiến tạo hòa bình – vì hiểu biết lẫn nhau và kết nối nhân loại.

Khoa học vật liệu mới, công nghệ sinh học, khoa học sức khỏe và y học – là chìa khóa cho tự cường công nghệ. Việt Nam có truyền thống mạnh về vật liệu compozit, vật liệu nano, và hiện đang vươn lên trong công nghệ vũ trụ, vật liệu siêu bền siêu nhẹ cacbon-cacbon, vật liệu y sinh, vaccine và dược phẩm. Những hướng này không chỉ bảo đảm an ninh y tế mà còn góp phần vào hệ sinh thái khoa học toàn cầu vì sức khỏe con người.

Khoa học cơ bản, cùng với khoa học xã hội – nhân văn và giáo dục STEM, khai phóng – là nền móng cốt lõi của sự phát triển, ổn định và hòa bình. Không thể nắm được công nghệ lõi nếu nền tảng khoa học cơ bản không đủ sâu và mạnh. Sự phát triển bền vững đòi hỏi hiểu con người, văn hóa, và bản sắc. Đầu tư cho khoa học cơ bản, cho giáo dục STEM, cho các ngành khoa học xã hội giúp chúng ta giữ được cái gốc của tự cường, tự chủ về công nghệ, là nền tảng gìn giữ giá trị truyền thống, đồng thời cũng là cơ sở để đối thoại và hợp tác với thế giới bằng sự tự tin, tinh thần nhân văn và trách nhiệm chung

Tất cả những trụ cột đó chỉ phát huy khi Việt Nam xây dựng một hệ sinh thái khoa học mở, minh bạch, hợp tác và dựa trên bằng chứng. Khi khoa học được định hướng bởi lòng yêu nước, trí tuệ sáng tạo và tinh thần nhân bản, cộng với hoài bão chấn hưng đất nước của mỗi người dân, thì dân tộc ta nhất định sẽ vươn tới giàu mạnh, hùng cường – và đó cũng chính là nền tảng vững chắc nhất đảm bảo cho hòa bình và thịnh vượng, phát triển bền vững của Quốc gia.

Nhìn về tương lai, “khoa học chúng ta cần cho năm 2050”, Giáo sư, Tiến sĩ Khoa học Nguyễn Đình Đức nhận xét: “Khoa học của năm 2050 sẽ có những đặc trưng là đổi mới sáng tạo (innovation), thông minh, toàn cầu và bền vững; với các từ khóa căn bản nhất là năng lượng mới, vật liệu mới, công nghệ lượng tử và trí tuệ nhân tạo; sẽ là khoa học của trí tuệ và lòng nhân ái, biết kết hợp giữa tốc độ phát triển như vũ bão của công nghệ và chiều sâu của tư duy nhân văn.

Ba đặc trưng lớn sẽ định hình khoa học tương lai đó là:

Liên ngành – xuyên biên giới: Mọi vấn đề của nhân loại – từ khí hậu, y tế đến hòa bình – đều đòi hỏi sự kết nối giữa khoa học tự nhiên, công nghệ và khoa học xã hội. Sự sáng tạo thật sự sẽ đến từ giao điểm của các ngành.

Thông minh, mở – minh bạch – chia sẻ: Khoa học 2050 sẽ không còn đóng khung trong một viện nghiên cứu, mà vận hành như một hệ sinh thái toàn cầu dựa trên dữ liệu mở, đạo đức nghiên cứu và niềm tin. Trí tuệ nhân tạo sẽ phát triển qua các cung bậc từ như người, là người và tiến tới làm người. Sáng tạo và tri thức chỉ có ý nghĩa khi được lan tỏa, phục vụ lợi ích cho con người và được sử dụng, chia sẻ có trách nhiệm.

Nhân văn – hướng con người: Trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo, điều khiến khoa học khác biệt chính là trái tim con người. Khoa học của tương lai không thể vô cảm; trí tuệ nhân tạo cùng với các thành tựu của khoa học phải hướng tới phục vụ và bảo vệ con người, tôn trọng sự sống, và nuôi dưỡng hòa bình”.

Nhân ngày Khoa học Thế giới vì Hòa bình và Phát triển, Giáo sư, Tiến sĩ Khoa học Nguyễn Đình Đức cũng muốn gửi gắm thông điệp với thế hệ trẻ – những người chủ tương lai của đất nước – thế hệ kế cận sẽ dẫn dắt khoa học rằng: “Hạnh phúc chỉ mỉm cười với những ai kiên trì và hăng say lao động. Hãy giữ cho mình ngọn lửa nhiệt huyết, trái tim trung thực, và tinh thần yêu nước và phục vụ nhân loại. Hãy để mỗi công trình nghiên cứu không chỉ làm giàu cho tri thức, cho khoa học mà còn phục vụ thiết thực và làm giàu đẹp cho cuộc sống, cho Tổ quốc và cho nhân loại.”

Góp ý văn kiện Đại hội XIV của Đảng: Việt Nam không chỉ ‘tham gia hội nhập’ mà có thể ‘định hình hội nhập’

Các trường đại học cần chú trọng công bố quốc tế, xếp hạng và tạo ra các sản phẩm khoa học – công nghệ có giá trị thực tiễn, góp phần giải quyết các thách thức khu vực như năng lượng, môi trường, đô thị thông minh.

Trao đổi với phóng viên Báo Nhà báo và Công luận, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội đã chỉ ra 4 hướng đột phá then chốt để đạt mục tiêu các cơ sở giáo dục đại học thành trung tâm khoa học – công nghệ tầm khu vực, trở thành đối tác ngang hàng trong chuỗi tri thức toàn cầu.

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội.

+Văn kiện xác định giáo dục là quốc sách hàng đầu, nhưng chất lượng và điều kiện học tập giữa các vùng miền vẫn chênh lệch sâu sắc. Theo Giáo sư, đâu là “điểm nghẽn” cần tháo gỡ để không ai bị bỏ lại phía sau?

– Nghị quyết 71/NQ-TW xác định giáo dục là nền tảng giáo dục đào tạo không chỉ là quốc sách quan trọng hàng đầu, mà còn là nhân tố quyết định tương lai, vận mệnh của dân tộc. Những năm qua, ngành giáo dục và đào tạo của chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng.

Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy sự chênh lệch về chất lượng và điều kiện học tập giữa các vùng, đặc biệt là giữa thành thị và nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, vẫn còn rất lớn. Theo tôi, có ba “điểm nghẽn” chủ yếu cần được tháo gỡ.

Thứ nhất, hạ tầng giáo dục chưa đồng đều: nhiều địa phương còn thiếu trường lớp đạt chuẩn, cơ sở vật chất xuống cấp, thiết bị dạy học lạc hậu, và điều kiện tiếp cận công nghệ thông tin còn hạn chế.

Thứ hai, nguồn nhân lực giáo viên phân bố không cân đối: giáo viên giỏi, giàu kinh nghiệm chủ yếu tập trung ở các đô thị lớn, trong khi vùng khó khăn thiếu giáo viên cả về số lượng và chất lượng, ảnh hưởng trực tiếp đến cơ hội học tập của học sinh.

Thứ ba, chính sách đầu tư và cơ chế hỗ trợ còn manh mún: chúng ta chưa có chiến lược tổng thể và bền vững để bảo đảm mọi học sinh, dù ở bất kỳ nơi nào, đều được tiếp cận giáo dục có chất lượng tương đương.

Vì vậy, cần đột phá về đầu tư hạ tầng số và đào tạo giáo viên, tăng cường ứng dụng công nghệ và mô hình giáo dục linh hoạt (ví dụ: lớp học kết nối, học liệu mở, nền tảng trực tuyến dùng chung), đồng thời xây dựng chính sách thu hút, đãi ngộ giáo viên về vùng khó khăn. Khi đó, giáo dục thực sự mới trở thành “quốc sách hàng đầu” và nhanh chóng thu hẹp chênh lệch về chất lượng giáo dục giữa các vùng miền.

+ Mục tiêu đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai, phát triển năng lực số ngay từ phổ thông đặt ra rất cao. Nếu thiếu giáo viên đạt chuẩn và hạ tầng đồng bộ, Việt Nam nên ưu tiên thực hiện theo lộ trình nào để tránh hình thức, thưa giáo sư?

– Đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai và phát triển năng lực số ngay từ phổ thông là một định hướng đúng đắn, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Việt Nam trong hội nhập quốc tế và chuyển đổi số quốc gia. Tuy nhiên, để tránh tình trạng triển khai hình thức, chúng ta cần thực hiện theo lộ trình hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm và gắn với thực tế năng lực từng vùng.

Nên triển khai thí điểm tại các đô thị lớn và một số tỉnh đại diện cho từng vùng miền.

Theo tôi, lộ trình nên tập trung vào 3 giai đoạn chính:

Thứ nhất, xây dựng nền tảng hạ tầng và chuẩn năng lực giáo viên tiếng Anh trong các trường phổ thông và cả ở bậc đại học. Giáo dục đại học phải đi đầu và tiên phong, đồng thời trước khi mở rộng đại trà, cần đầu tư đồng bộ vào hệ thống hạ tầng số ở các trường phổ thông, đặc biệt ở vùng nông thôn, miền núi; đồng thời tập trung bồi dưỡng giáo viên tiếng Anh và tin học đạt chuẩn quốc tế, ưu tiên hình thức đào tạo trực tuyến kết hợp và đặc biệt là ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong giảng dạy, kiểm tra đánh giá để tiết kiệm chi phí và mở rộng tiếp cận.

Thứ hai, thí điểm và nhân rộng có chọn lọc. Nên triển khai thí điểm tại các đô thị lớn và một số tỉnh đại diện cho từng vùng miền để đánh giá hiệu quả, sau đó rút kinh nghiệm và nhân rộng, thay vì triển khai ồ ạt.

Thứ ba, phát triển hệ sinh thái học tập số và học liệu mở, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ mới và trí tuệ nhân tạo trọng dạy và học tiếng Anh. Cần xây dựng kho học liệu song ngữ, nền tảng dạy – học tiếng Anh và năng lực số dùng chung toàn quốc, để mọi học sinh, dù ở đâu, cũng có thể học cùng một nội dung chuẩn.

Quan trọng hơn cả là xem tiếng Anh, ngoại ngữ và năng lực số không phải là môn học riêng biệt, mà là công cụ để học các môn khác, để sống và làm việc trong môi trường toàn cầu hóa. Khi đó, việc học tiếng Anh và kỹ năng số mới thật sự đi vào chiều sâu và bền vững.

Việc đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ 2 trong hệ thống giáo dục ở Việt Nam là việc lớn, hệ trọng, lâu dài. Bộ giáo dục và Đào tạo nên thành lập Ban chỉ đạo để triển khai thực hiện.

Chính sách ưu đãi vượt trội dành cho đội ngũ nhà giáo và nhà khoa học tiếp tục được nhấn mạnh. Theo Giáo sư, cơ chế nào phải thay đổi đầu tiên để lời hứa “trọng dụng nhân tài” không dừng lại ở văn bản?

– Đúng như nhiều văn kiện của Đảng và Nhà nước đã khẳng định, “trọng dụng nhân tài” và “đãi ngộ người thầy” là nền tảng của phát triển bền vững quốc gia. Gần đây, sau Nghị Quyết 57/NQ-TW, Nhà nước đã có nhiều chính sách cụ thể như Nghị định số 179/2024/NĐ-CP ngày 31/12/2024 của Chính phủ, Luật KHCN & ĐMST mới được Quốc hội ban hành năm 2025 và gần đây nhất là Quyết định số 983/QĐ-BNV phê duyệt lĩnh vực và vị trí việc làm ưu tiên thu hút, trọng dụng người có tài năng của Bộ Nội vụ giai đoạn 2025 – 2030.

Nhân tài phải được giao nhiệm vụ lớn, có quyền tự chủ tương xứng và được đánh giá bằng sản phẩm đầu ra cụ thể.

Tuy nhiên, để những chủ trương ấy không chỉ dừng lại ở khẩu hiệu hay văn bản, điều quan trọng nhất là phải thay đổi cơ chế thực thi – đặc biệt là cơ chế sử dụng, đánh giá và đãi ngộ đội ngũ trí thức.

Theo tôi, có 3 thay đổi căn bản cần được ưu tiên:

Thứ nhất, đổi mới cơ chế tuyển chọn và sử dụng nhân tài: Cần tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh, minh bạch, coi năng lực và hiệu quả công việc là tiêu chí cốt lõi, thay vì dựa vào thâm niên hay hành chính. Nhân tài phải được giao nhiệm vụ lớn, có quyền tự chủ tương xứng và được đánh giá bằng sản phẩm đầu ra cụ thể.

Thứ hai, cải cách chính sách đãi ngộ theo hướng gắn thu nhập với giá trị sáng tạo và đóng góp thực tế. Người giỏi phải được hưởng lương, thưởng, điều kiện làm việc và cơ hội phát triển tương xứng – không thể để “người tài sống bằng đam mê, người bình thường sống bằng cơ chế”.

Thứ ba, xây dựng môi trường học thuật cởi mở, khuyến khích sáng tạo và trọng nhân cách. Nhà giáo và nhà khoa học cần được bảo vệ quyền tự do học thuật, được khuyến khích dấn thân nghiên cứu và đổi mới, thay vì bị trói buộc bởi thủ tục hành chính hay tâm lý “an toàn”.

Chỉ khi chuyển từ “tuyên bố trọng dụng” sang “trọng dụng, sử dụng nhân tài” bằng thể chế và cơ chế trọng dụng , đãi ngộ trên thực tế, thì mới phát huy hết tiềm năng của đội ngũ trí thức và mới thực sự trở thành động lực sáng tạo và là trụ cột của quốc gia.

Thưa Giáo sư, đổi mới quản trị, mở rộng quyền tự chủ đại học là yêu cầu trọng tâm. Nhưng tự chủ đi kèm trách nhiệm giải trình và kiểm định đầu ra nghiêm ngặt. Việt Nam cần mô hình giám sát nào để đảm bảo chất lượng thay vì “thả nổi”?

Tự chủ đại học là xu thế tất yếu của giáo dục hiện đại, vì chỉ khi các trường được trao quyền thực sự thì mới phát huy được sáng tạo, huy động được nguồn lực xã hội, và nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu. Tuy nhiên, tự chủ không có nghĩa là “tự do tuyệt đối”, mà phải đi đôi với trách nhiệm giải trình, minh bạch và kiểm định độc lập. Để tránh tình trạng “thả nổi”, Việt Nam cần xây dựng mô hình giám sát đa tầng, kết hợp giữa tự giám sát nội bộ, kiểm định độc lập bên ngoài, và giám sát xã hội.

Cụ thể: Thứ nhất, mỗi trường đại học phải thiết lập hệ thống quản trị nội bộ hiện đại, công khai các chỉ số về tài chính, nguồn lực, chất lượng đào tạo, NCKH, hợp tác quốc tế và việc làm của sinh viên sau tốt nghiệp. Khi đó, minh bạch chính là hình thức giám sát đầu tiên và hiệu quả nhất.

Kết quả kiểm định phải được công bố công khai và gắn với cơ chế phân bổ ngân sách, xếp hạng, và tuyển sinh.

Thứ hai, cần củng cố và phát huy các trung tâm kiểm định chất lượng độc lập, phi hành chính hóa, có đủ năng lực, uy tín và quyền hạn thực tế để đánh giá khách quan mọi cơ sở giáo dục, kể cả đại học công lập. Kết quả kiểm định phải được công bố công khai và gắn với cơ chế phân bổ ngân sách, xếp hạng, và tuyển sinh.

Thứ ba, xây dựng cơ chế giám sát xã hội và phản biện học thuật, trong đó người học, nhà tuyển dụng, hiệp hội nghề nghiệp và giới khoa học đều có tiếng nói trong đánh giá chất lượng giáo dục đại học.

Khi quản trị dựa trên dữ liệu, minh bạch và trách nhiệm giải trình trở thành văn hóa, thì tự chủ không phải là “thả nổi”, mà là trao quyền để nâng cao chất lượng thật – đúng tinh thần mà Đảng và Nhà nước đã định hướng trong đổi mới giáo dục đại học.

Hội nhập quốc tế mạnh mẽ là xu hướng tất yếu, nhưng hiện Việt Nam thu hút chưa nhiều chuyên gia hàng đầu thế giới. Theo Giáo sư, đâu là chính sách đột phá để biến các cơ sở giáo dục đại học thành trung tâm khoa học – công nghệ tầm khu vực?

– Hội nhập quốc tế là xu hướng tất yếu và là thước đo năng lực của nền giáo dục hiện đại. Tuy nhiên, thực tế cho thấy Việt Nam vẫn chưa trở thành điểm đến hấp dẫn đối với các nhà khoa học hàng đầu thế giới. Để biến các trường đại học thành trung tâm khoa học – công nghệ tầm khu vực, chúng ta cần những chính sách đột phá và thực chất, chứ không chỉ là lời mời hợp tác mang tính hình thức.

Theo tôi, có 4 hướng đột phá then chốt:

Thứ nhất, xây dựng môi trường học thuật và nghiên cứu quốc tế hóa thực sự.

Cần tạo điều kiện để các nhà khoa học quốc tế có thể tham gia giảng dạy, hướng dẫn nghiên cứu sinh, công bố chung và tiếp cận nguồn dữ liệu, phòng thí nghiệm của Việt Nam. Đồng thời kiến tạo, xây dựng những nhóm nghiên cứu mạnh có sự tham gia của các nhân tài, các chuyên gia đầu ngành với các đồng nghiệp và các nghiên cứu sinh. Tiếng Anh cần trở thành ngôn ngữ làm việc trong giảng dạy và nghiên cứu ở các chương trình tiên tiến.

Thứ hai, cải cách mạnh mẽ cơ chế tài chính và đầu tư nghiên cứu.

Thay vì chia nhỏ kinh phí, nên tập trung đầu tư hình thành các trung tâm xuất sắc (Center of Excellence) có quy mô, trang thiết bị hiện đại, và cơ chế hoạt động linh hoạt, thu hút được cả nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia quốc tế.

Thu hút mọi nhân tài trên thế giới đến Việt Nam làm việc với cơ chế cởi mở và linh hoạt.

Thứ ba, mở rộng quyền tự chủ trong hợp tác quốc tế và quản lý nhân sự.

Các trường cần được trao quyền quyết định trong việc ký kết hợp đồng, trả lương cạnh tranh, mời gọi giáo sư thỉnh giảng, hoặc đồng hướng dẫn tiến sĩ với đối tác quốc tế, không bị ràng buộc quá nhiều bởi thủ tục hành chính. Thu hút mọi nhân tài trên thế giới đến Việt Nam làm việc với cơ chế cởi mở và linh hoạt, “không để nhân tài nào bị bỏ sót, sáng kiến nào bị lãng quên”.

Thứ tư, xây dựng thương hiệu học thuật và uy tín quốc tế.

+ Trân trọng cảm ơn Giáo sư!

GS.TSKH. Nguyễn Đình Đức: Người đưa khoa học vật liệu Việt Nam vươn tầm thế giới

Từ những bài báo đăng trên các tạp chí khoa học uy tín hàng đầu thế giới, đến việc xây dựng một trường phái nghiên cứu mạnh về vật liệu và kết cấu tiên tiến, GS.TSKH. Nguyễn Đình Đức – Chủ nhiệm Khoa Công nghệ xây dựng – Giao thông, Đại học Quốc gia Hà Nội đã góp phần khẳng định vị thế của khoa học Việt Nam trên bản đồ nghiên cứu quốc tế.

Người mở lối trong nghiên cứu vật liệu mới

Khi nhiều đồng nghiệp còn gắn bó với các lĩnh vực truyền thống, GS.TSKH. Nguyễn Đình Đức đã chọn hướng đi khó: Nghiên cứu vật liệu composite và kết cấu tiên tiến. Đây là những lĩnh vực đòi hỏi kiến thức cơ học, toán học, vật lý hiện đại, đồng thời yêu cầu tầm nhìn ứng dụng trong công nghiệp công nghệ cao.

GS.TSKH. Nguyễn Đình Đức – Chủ nhiệm Khoa Công nghệ xây dựng – Giao thông, Đại học Quốc gia Hà Nội góp phần khẳng định vị thế của khoa học Việt Nam trên bản đồ nghiên cứu quốc tế.

Một trong những dấu ấn đặc biệt của ông là nghiên cứu về vật liệu composite ba pha – vật liệu kết hợp sợi thủy tinh, chất nền polymer và hạt nano. Việc đưa các hạt nano vào lõi vật liệu giúp tăng cường độ bền cơ học, chịu nhiệt, cách điện, mở ra khả năng ứng dụng rộng rãi trong đóng tàu, dân dụng, năng lượng và quốc phòng.

Nổi bật trong hành trình khoa học của Giáo sư là tập trung nghiên cứu về các vật liệu mới trên thế giới hiện nay như vật liệu composite nano cacbon siêu bền nhiệt được ứng dụng trong an ninh quốc phòng; vật liệu composite polymer nhiều pha, ứng dụng trong công nghệ đóng tàu và các sản phẩm dân dụng; vật liệu và kết cấu tiên tiến như FGM, auxetic, pentagraphin và các vật liệu thông minh, có cơ lý tính biến đổi, độ bền cao, chịu nhiệt độ cao, cách điện, cách nhiệt, ứng dụng trong các ngành công nghiệp, năng lượng, lưu trữ thông tin, chip vi mạch và bán dẫn. Đây đều là những hướng nghiên cứu tiên tiến, hiện đại trên thế giới hiện nay.

GS. Nguyễn Đình Đức không chỉ dừng lại ở các công cụ tính toán cổ điển. Ông và nhóm nghiên cứu đã tiên phong tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI) vào thiết kế vật liệu và kết cấu. AI giúp rút ngắn đáng kể thời gian mô phỏng, dự báo chính xác hơn đặc tính vật liệu, mở ra khả năng thiết kế vật liệu “may đo” cho từng ứng dụng.

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức nhiệt huyết truyền thụ kiến thức cho các thế hệ sinh viên

Công bố quốc tế – minh chứng hội nhập

Từ những nỗ lực bền bỉ, GS.TSKH. Nguyễn Đình Đức đã trở thành một trong những nhà khoa học Việt Nam có nhiều công bố quốc tế nhất trong lĩnh vực cơ học vật liệu và kết cấu. Chỉ riêng trong giai đoạn 5 năm 2020-2025, GS. Nguyễn Đình Đức là tác giả của 86 bài đăng trên các tạp chí ISI uy tín và 100% đều thuộc nhóm Q1, Q2, đặc biệt có 17 bài (chiếm 19,7% công bố quốc tế) trong nhóm các tạp chí ISI top 5% thế giới.

Ba công trình quốc tế mới nhất là minh chứng rõ nét cho sự hội nhập của ông. Năm 2024, trên Aerospace Science and Technology, ông công bố bài “Nonlinear vibration analysis of a double curved shallow sandwich shell…” (Phân tích dao động phi tuyến của vỏ sandwich cong nông với lõi nanocomposite ba pha). Nghiên cứu này tập trung vào kết cấu sandwich dạng vỏ cong có lõi nanocomposite ba pha và lớp ngoài điện – từ. Đây là dạng kết cấu siêu nhẹ, bền chắc, được ứng dụng trong máy bay, tàu vũ trụ. Mô hình toán học phi tuyến mà ông phát triển cho phép dự đoán dao động chính xác, từ đó tối ưu thiết kế để đảm bảo an toàn trong điều kiện khắc nghiệt.

Năm 2025, trên European Journal of Mechanics A/Solids, ông cùng cộng sự công bố công trình “Tilted indentation by a flat-ended punch on an anisotropic magnetoelectroelastic half-plane”. Vật liệu magnetoelectroelastic có khả năng kết hợp cơ – điện – từ, là cơ sở để phát triển thế hệ cảm biến chính xác cho hàng không, y sinh, robot thông minh. Cũng trong năm nay, hệ thống Taylor & Francis đăng tải công trình “Nonlinear and linear free vibrations analysis of sandwich plates with auxetic cores…”. Bài báo lần đầu tiên phân tích toàn diện dao động tự do tuyến tính và phi tuyến của tấm sandwich lõi auxetic – loại vật liệu có hệ số nở âm, tức giãn nở theo cả hai hướng khi chịu kéo. Đặc tính độc đáo này mở ra ứng dụng trong quốc phòng, hàng không, xây dựng.

Ba bài báo tiêu biểu này cho thấy sự đa dạng trong hướng nghiên cứu của ông: Từ composite nanô, vật liệu đa trường đến vật liệu auxetic, tất cả đều gắn liền với xu thế vật liệu tiên tiến của thế giới.

Xây dựng trường phái khoa học Việt Nam

GS. TSKH. Nguyễn Đình Đức đã thành lập Phòng thí nghiệm Vật liệu và Kết cấu tiên tiến tại Đại học Quốc gia Hà Nội, quy tụ nhiều thế hệ nghiên cứu trẻ. Từ đó hình thành nên trường phái khoa học về vật liệu và kết cấu tiên tiến ở Đại học Quốc gia Hà Nội và ở Việt Nam, đồng thời đây còn là nơi đào tạo tiến sĩ, thạc sĩ, kỹ sư, những người sau này tiếp tục lan tỏa tri thức trong và ngoài nước.

Nhiều học trò của ông đã có công bố quốc tế từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, nhiều người hiện trở thành giảng viên, nhà nghiên cứu tại các trường đại học uy tín. Trường phái khoa học về vật liệu và kết cấu tiên tiến mà ông xây dựng đang giúp Việt Nam hợp tác bình đẳng với các phòng thí nghiệm lớn trên thế giới.

GS.TSKH. Nguyễn Đình Đức hiện là thành viên Hội đồng biên tập của nhiều tạp chí quốc tế uy tín như Aerospace Science and Technology (Elsevier), Journal of Mechanical Engineering Science (SAGE), ZAMM (Wiley), Acta Mechanica (Springer). Ông cũng thường xuyên được mời làm báo cáo viên toàn thể tại các hội nghị quốc tế lớn. Đây là sự ghi nhận vị thế học thuật của một nhà khoa học Việt Nam trên trường quốc tế./.

Theo Trang thông tin Bộ Khoa học và Công nghệ

Sáp nhập đại học: Không nên “ghép cơ học” mà tái cấu trúc chiến lược để hình thành đại học mạnh

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức cho rằng, sáp nhập không phải là “ghép cơ học” mà là tái cấu trúc chiến lược để hình thành những đại học mạnh, liên ngành, tự chủ, có trách nhiệm giải trình cao.

Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo là cột mốc chiến lược, tạo đột phá về tư duy và thể chế cho giáo dục Việt Nam.

Một trong những nhiệm vụ, giải pháp nhằm hiện đại hóa, nâng tầm giáo dục đại học, tạo đột phá phát triển nhân lực trình độ cao và nhân tài, dẫn dắt nghiên cứu, đổi mới sáng tạo được nhấn mạnh tại Nghị quyết là triển khai sắp xếp, tái cấu trúc các cơ sở giáo dục đại học; sáp nhập, giải thể các cơ sở giáo dục đại học không đạt chuẩn; xóa bỏ cấp trung gian, bảo đảm quản trị tinh gọn, thống nhất, hiệu quả.

Tại Hội nghị Giáo dục đại học, do Bộ GD-ĐT vừa qua, Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Kim Sơn cũng nhấn mạnh việc chúng ta đang chuẩn bị một “cuộc đại sắp xếp” các cơ sở giáo dục đại học. Việc tái cấu trúc, sắp xếp sẽ thực hiện bằng tinh thần quyết tâm cao độ.

Thời cơ chưa từng có để chúng ta mạnh dạn cải tổ lại hệ thống giáo dục đại học Việt Nam

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, Đại học Quốc gia Hà Nội nhìn nhận, việc sáp nhập các trường đại học hiện nay xuất phát từ yêu cầu cần tập trung nguồn lực để giáo dục đại học Việt Nam có những phát triển đột phá và cất cánh trong kỷ nguyên mới, với những kỳ vọng lớn lao về khoa học công nghệ và giáo dục đại học của Việt Nam.

Sáp nhập sẽ giúp tránh dàn trải, trùng lặp ngành/chương trình, đặc biệt ở những cơ sở quy mô nhỏ, hiệu quả thấp, đồng thời góp phần nâng tầm cạnh tranh quốc tế.

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, nguyên Chủ tịch Hội đồng Trường Đại học Công nghệ – Đại học Quốc gia Hà Nội

“Từ việc sáp nhập này sẽ hình thành các trường đại học đa ngành quy mô đủ lớn, có hệ sinh thái nghiên cứu-đổi mới, tăng cơ hội vào các bảng xếp hạng và thu hút học giả, sinh viên quốc tế”, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức cho hay.

Theo ông, sáp nhập cũng sẽ thúc đẩy tự chủ và trách nhiệm giải trình: mô hình ít đầu mối giúp hoạch định chiến lược, tài chính, nhân sự đồng bộ hơn, gắn KPI minh bạch. Đặc biệt, trong thời đại ngày nay, việc sáp nhập giúp thuận lợi trong việc chuyển đổi số – liên ngành: kết hợp năng lực số, dữ liệu, phòng thí nghiệm, thư viện, để giải quyết các bài toán liên ngành (AI–VLKT-y sinh-môi trường…).

Sáp nhập theo nghị quyết 71/TW cũng phục vụ phát triển vùng/ngành: sắp xếp mạng lưới giáo dục đại học để mỗi đại học có “sứ mệnh” rõ ràng với địa phương/ngành mũi nhọn.

“Vì vậy, tôi cho rằng đây là thời điểm chín muồi, là thời cơ chưa từng có để chúng ta mạnh dạn cải tổ lại hệ thống giáo dục đại học Việt Nam, nhằm đáp ứng tốt nhất yêu cầu về đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao, cũng như tập trung phát triển khoa học công nghệ và tăng cường chuyển đổi số, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, là một trong những biện pháp hiệu quả và thiết thực để góp phần thực hiện thành công nghị quyết 71 và nghị quyết 57/TW”, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức nhấn mạnh.

Tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu quả hoạt động

Liên quan đến những lợi ích về chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học khi tiến hành sáp nhập các trường đại học, theo GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, suy cho cùng mục đích cao nhất của việc sáp nhập, cải tổ chính là nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu quả hoạt động của các trường đại học, nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu; nâng cao năng lực cạnh tranh và quản trị của các trường đại học.

Cụ thể, về đào tạo sẽ giúp chuẩn chương trình thống nhất, chia sẻ học liệu – giảng viên giỏi, mở ngành liên ngành; tăng học phần chọn, tín chỉ linh hoạt giữa các trường thành viên.

Về nghiên cứu, thông qua sáp nhập tăng cường tiềm lực khoa học công nghệ của các trường; hợp lực nhóm mạnh, dùng chung phòng thí nghiệm/thiết bị; tăng công bố và thuận lợi hơn khi triển khai các đề tài lớn; dễ thành lập trung tâm xuất sắc (CoE), doanh nghiệp khoa học và công nghệ.

Đồng thời, tăng năng lực cạnh tranh cho trường đại học sau khi sáp nhập: quy mô lớn hơn, thương hiệu lớn, một đầu mối đối ngoại – hợp tác – xếp hạng, tăng khả năng gọi tài trợ, học bổng, dự án quốc tế.

Về quản trị – nguồn lực, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức đánh giá việc sáp nhập sẽ cắt bỏ các lớp trung gian; sử dụng nguồn lực chung, cả những nguồn lực hữu hình (con người, cơ sở vật chất, thiết bị) và vô hình. Bên cạnh đó, gom mua sắm, cải thiện dịch vụ, hạ tầng IT; giảm chi phí cố định; dữ liệu quản trị tập trung.

Sinh viên một trường đại học tại Hà Nội. Ảnh: Nguyễn Liên

Cần thống nhất nguyên tắc xử lý: “không ai bị bỏ lại phía sau”

Hiện nay, một số ý kiến lo ngại việc sáp nhập sẽ dẫn đến xáo trộn tổ chức, ảnh hưởng đến quyền lợi của giảng viên, sinh viên.

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức nhìn nhận, những băn khoăn lo ngại này là tâm lý chung khi sáp nhập và có cơ sở như: lo ngại thay đổi cơ cấu, vị trí việc làm, thói quen, thu nhập; điều chuyển nhiệm vụ, chuẩn đánh giá mới; mức độ hòa hợp và hội nhập về văn hóa truyền thống của các trường sau khi sáp nhập.

Để hóa giải những lo ngại này và làm tốt công tác sáp nhập, ông cho rằng cần thống nhất nguyên tắc xử lý: “không ai bị bỏ lại phía sau”, cùng với sự minh bạch và phân chia theo từng giai đoạn.

Sau sáp nhập, tái cấu trúc, các trường cần khẩn trương xây dựng lại vị trí việc làm, mô tả chức năng, tiêu chuẩn học thuật. Đồng thời, thiết lập cơ chế đánh giá cũng như điều chỉnh độc lập, công khai và minh bạch; đặc biệt là cơ chế tài chính, quy chế chi tiêu nội bộ (phải lường được những tình huống khá phức tạp như có trường đã tự chủ sáp nhập vào trường chưa tự chủ và ngược lại).

“Các trường đại học là môi trường học thuật, nên sáp nhập khác với doanh nghiệp và các cơ quan hành chính. Vì vậy, với giảng viên cần tôn trọng thâm niên, thành tích và trong sự thống nhất, chấp nhận cả sự khác biệt. Chúng ta cũng cần có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng gắn với nâng chuẩn, hỗ trợ nghiên cứu; giữ ổn định thu nhập trong thời gian chuyển tiếp”, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức đề xuất.

Với sinh viên, theo GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, cần bảo toàn quyền lợi học tập, ví dụ khung chương trình đang đào tạo, số tín chỉ, bảo toàn học phí đang thực hiện,… và có kế hoạch từng bước thống nhất chuẩn chương trình đào tạo sau sáp nhập.

Đặc biệt, cần đẩy mạnh truyền thông, tham vấn, đối thoại thường xuyên để mọi khúc mắc đều được kịp thời xem xét và giải quyết, đảm bảo đoàn kết nội bộ. Từ đó, xây dựng Chiến lược phát triển mới cho trường đại học sau sáp nhập.

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức nhấn mạnh tinh thần chung: sáp nhập không phải là “ghép cơ học” mà là tái cấu trúc chiến lược để hình thành những đại học mạnh, liên ngành, tự chủ, có trách nhiệm giải trình cao.

“Thành công của cuộc “cải tổ” này phụ thuộc vào thiết kế thể chế, mô hình quản trị, dữ liệu minh bạch, lộ trình nhân văn và cam kết đặt chất lượng – con người – sứ mệnh quốc gia ở vị trí trung tâm”, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức nói.

Ngày 21/9, Ban Chỉ đạo của Chính phủ ban hành Kế hoạch về sắp xếp đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước, tổ chức bên trong hệ thống hành chính nhà nước.

Theo Kế hoạch này, Việt Nam sẽ xây dựng một số trường, trung tâm đào tạo tiên tiến chuyên sâu về trí tuệ nhân tạo. Bên cạnh đó, sắp xếp, tái cấu trúc các cơ sở giáo dục đại học. Sáp nhập, giải thể các cơ sở giáo dục đại học không đạt chuẩn. Xóa bỏ cấp trung gian, bảo đảm quản trị tinh gọn, thống nhất, hiệu quả. Nghiên cứu sáp nhập các viện nghiên cứu với các cơ sở giáo dục đại học, chuyển một số trường đại học về địa phương quản lý.

Ngày 18/9, phát biểu tại Hội nghị Giáo dục đại học, Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Kim Sơn nhấn mạnh, việc tái cấu trúc sắp xếp các cơ sở giáo dục đại học sẽ thực hiện bằng tinh thần quyết tâm cao độ.

Về việc các cơ sở giáo dục sẽ phải sắp xếp như thế nào để giảm đầu mối, Bộ trưởng cho biết, với các trường ngoài công lập sẽ tự giải quyết; các cơ sở giáo dục khối công an, quân đội về cơ bản sẽ do Bộ Quốc phòng và Bộ Công an thực hiện. Trừ đi các số này, hiện còn tổng cộng khoảng 140 trường đại học công lập.

“Sẽ không công bố con số sẽ giảm bao nhiêu hoặc còn lại bao nhiêu phần trăm nhưng chắc chắn sẽ giảm sâu trong thời gian tới. Kịch bản phía trước sẽ có nhiều phương án diễn ra. Có thể các trường thuộc khối Trung ương quản lý sẽ về địa phương quản lý. Có thể trường thuộc khối địa phương nhập về khối Trung ương. Có thể trường khối Trung ương nhập vào nhau hoặc một số trường sẽ giải tán nếu quy mô quá nhỏ, các tiêu chuẩn không đáp ứng. Đặc biệt, các số trường gần nhau về lĩnh vực sẽ nhập vào để khắc phục tình trạng manh mún nhỏ lẻ và không phát triển được. Ban chỉ đạo của Bộ GD-ĐT sẽ lên phương án, báo cáo Thủ tướng sau đó triển khai”, Bộ trưởng cho hay.

Bộ trưởng Nguyễn Kim Sơn nhấn mạnh, tương tự công cuộc sắp xếp lại các tỉnh thành, việc sắp xếp lại các cơ sở giáo dục chắc chắn phải thực hiện. Việc tái cấu trúc, sắp xếp các đầu mối của các trường hệ thống công lập sẽ thực hiện bằng hình thức lên kế hoạch, yêu cầu thực thi; tuy nhiên phải có tính toán để làm sao sau khi tái cấu trúc làm các trường sẽ mạnh lên, không phải cốt để giảm đầu mối

Thậm chí, có trường chưa phải trường lớn, nhưng xét về địa chính trị, vị trí thì vẫn giữ lại và buộc trường phải “lớn càng nhanh càng tốt”.