Những năm qua, Việt Nam có những nhà khoa học đạt được nhiều thành tựu nổi bật. Báo Tiền Phong điểm lại gương mặt các nhà khoa học Việt Nam, nhà khoa học gốc Việt đương đại có nhiều đóng góp cho sự phát triển của khoa học và công nghệ.

Những năm qua, Việt Nam có những nhà khoa học đạt được nhiều thành tựu nổi bật. Báo Tiền Phong điểm lại gương mặt các nhà khoa học Việt Nam, nhà khoa học gốc Việt đương đại có nhiều đóng góp cho sự phát triển của khoa học và công nghệ.

Tôi cho rằng, cần tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, tài chính, nhân lực và tự chủ đại học.
Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Lễ kỷ niệm 120 năm Ngày truyền thống Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) ngày 16/5/2026 là chỉ đạo có tầm chiến lược, không chỉ đối với riêng ĐHQGHN mà còn đối với toàn bộ hệ thống giáo dục đại học Việt Nam.
Tôi cho rằng, điểm sâu sắc trong bài phát biểu là, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã nhìn nhận ĐHQGHN trong cả chiều dài lịch sử, hiện tại và tương lai. ĐHQGHN không chỉ là cơ sở giáo dục đại học có truyền thống lâu đời, mà còn là biểu tượng của trí tuệ Việt Nam, nơi kết tinh khát vọng học thuật, đào tạo nhân tài và phụng sự đất nước.
Nhưng truyền thống chỉ thật sự có giá trị khi được chuyển hóa thành trách nhiệm và hành động. Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, ĐHQGHN cần phải vươn lên mạnh mẽ hơn, không chỉ giữ vai trò một trung tâm đào tạo và nghiên cứu hàng đầu, mà còn phải trở thành lực lượng tiên phong trong khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Hai chữ “Quốc gia” trong tên gọi Đại học Quốc gia Hà Nội mang ý nghĩa rất lớn. Đó không chỉ là danh xưng, mà là sứ mệnh. ĐHQGHN phải gắn sự phát triển của mình với những yêu cầu lớn của đất nước; phải đào tạo những con người có năng lực dẫn dắt; phải tạo ra tri thức mới, công nghệ mới, chính sách mới và đóng góp thực chất cho sự phát triển quốc gia.
Tôi đặc biệt tâm đắc với yêu cầu xây dựng ĐHQGHN trở thành một đại học tinh hoa, hiện đại, đa ngành, đa lĩnh vực, vận hành theo mô hình đại học đổi mới sáng tạo.
“Tinh hoa” ở đây không chỉ được hiểu là tuyển chọn những người giỏi, mà cao hơn, phải là tinh hoa về chất lượng học thuật, năng lực nghiên cứu, năng lực sáng tạo công nghệ, uy tín quốc tế và đóng góp thực tế cho đất nước.
Một đại học tinh hoa phải là nơi hội tụ các nhà khoa học lỗi lạc, các nhà khoa học xuất sắc, các chuyên gia công nghệ đầu ngành, các sinh viên ưu tú, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và các nhà hoạch định chính sách. Ở đó, tri thức không chỉ nằm trong giáo trình, phòng thí nghiệm hay các bài báo khoa học, mà phải được chuyển hóa thành sản phẩm, công nghệ, chính sách, doanh nghiệp và giá trị phát triển cho xã hội.
Muốn thực hiện được yêu cầu đó, theo tôi, trước hết ĐHQGHN cần đổi mới căn bản mô hình quản trị đại học. ĐHQGHN cần được quản trị theo mục tiêu, theo chất lượng, theo sản phẩm đầu ra và theo tác động xã hội.
Mô hình “one VNU – một ĐHQGHN” và nguồn lực được khai thác chung, nhưng mỗi trường đại học thành viên, mỗi viện nghiên cứu, mỗi phòng thí nghiệm, mỗi nhóm nghiên cứu mạnh cần có nhiệm vụ rõ ràng, chỉ tiêu rõ ràng và trách nhiệm rõ ràng.

Chúng ta không thể chỉ đánh giá đại học bằng quy mô tuyển sinh, số lượng đề tài hay số bài báo công bố. Những tiêu chí đó là cần thiết, nhưng chưa đủ. Cần phải đánh giá bằng chất lượng công bố, số bằng sáng chế, số sản phẩm công nghệ được chuyển giao, số doanh nghiệp khoa học – công nghệ được hình thành, số chính sách được tư vấn, số nhân tài được đào tạo và mức độ đóng góp thực chất cho đất nước.
Phải tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, tài chính, nhân lực và tự chủ đại học. Một đại học muốn sáng tạo thì không thể bị ràng buộc bởi những cơ chế hành chính quá cứng nhắc.
Tự chủ đại học phải đi liền với trách nhiệm giải trình, nhưng trách nhiệm giải trình không được biến thành sự gia tăng thủ tục. Cần trao cho ĐHQGHN quyền tự chủ và chủ động cao hơn trong học thuật, tuyển dụng, đãi ngộ nhân tài, sử dụng nguồn lực, hợp tác quốc tế, thành lập doanh nghiệp khoa học – công nghệ, triển khai các hoạt động khoa học công nghệ (KHCN) và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Nếu đặt mục tiêu đến năm 2030 ĐHQGHN thuộc nhóm 100 đại học hàng đầu châu Á, đến năm 2035 thuộc nhóm 300 đại học hàng đầu thế giới, và một số ngành mũi nhọn vào nhóm 100 toàn cầu, thì cơ chế, đầu tư dành cho ĐHQGHN cũng phải tương xứng với mục tiêu đó. Không thể yêu cầu một đại học cạnh tranh quốc tế nhưng lại vận hành bằng những cơ chế chưa đủ linh hoạt và chưa đủ sức hấp dẫn nhân tài.
Ngoài ra, cần đầu tư có trọng điểm cho các lĩnh vực mũi nhọn. ĐHQGHN là đại học đa ngành, đa lĩnh vực, nhưng đa ngành không có nghĩa là đầu tư dàn trải. Cần lựa chọn một số lĩnh vực có lợi thế, có nền tảng khoa học mạnh và có ý nghĩa chiến lược đối với đất nước để đầu tư đến ngưỡng. Đó có thể là trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, vật liệu mới, công nghệ sinh học, dữ liệu lớn, năng lượng mới, khoa học bền vững, khoa học giáo dục, khoa học chính sách và Việt Nam học.
Trong mỗi lĩnh vực, cần hình thành các trung tâm xuất sắc, các nhóm nghiên cứu mạnh theo chuẩn quốc tế. Những nhóm này phải có trưởng nhóm đủ uy tín, có đội ngũ kế cận, có nghiên cứu sinh giỏi, có phòng thí nghiệm hiện đại, có hợp tác quốc tế thực chất và có ngân sách ổn định dài hạn. Không thể có nghiên cứu đỉnh cao nếu đầu tư ngắn hạn, manh mún và thiếu tính liên tục.
Cần gắn nghiên cứu khoa học với các bài toán lớn của đất nước. Đây là yêu cầu vô cùng quan trọng, là “đầu ra” của hoạt động KHCN. Đại học không thể chỉ nghiên cứu những gì mình có, mà cần nghiên cứu những gì đất nước đang cần và sẽ cần.
ĐHQGHN cần chủ động đề xuất các chương trình nghiên cứu lớn theo đặt hàng quốc gia, như chuyển đổi số trong quản trị nhà nước, phát triển nguồn nhân lực bán dẫn, ứng dụng AI trong giáo dục và y tế, đô thị thông minh, kinh tế xanh, an ninh phi truyền thống, biến đổi khí hậu, phát triển văn hóa số và xây dựng con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
ĐHQGHN phải trở thành “túi khôn” của quốc gia. Khi Nhà nước cần luận cứ khoa học cho những quyết sách chiến lược, ĐHQGHN phải là một địa chỉ tin cậy. Khi doanh nghiệp cần công nghệ, nhân lực chất lượng cao và mô hình đổi mới sáng tạo, ĐHQGHN phải là một đối tác chiến lược. Khi địa phương cần mô hình phát triển, chuyển đổi số, quản trị đô thị, phát triển nguồn nhân lực, ĐHQGHN phải có khả năng đồng hành.
Phải xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thực chất tại Hòa Lạc. Khu đô thị ĐHQGHN tại Hòa Lạc cần được phát triển như một thành phố đại học – công nghệ – đổi mới sáng tạo, chứ không chỉ là một khu giảng đường mới. Việc kết nối với Khu Công nghệ cao Hòa Lạc cần được triển khai bằng các chương trình cụ thể: phòng thí nghiệm mở, trung tâm ươm tạo, quỹ hỗ trợ khởi nghiệp, doanh nghiệp spin-off từ đại học, chương trình đặt hàng từ doanh nghiệp, và không gian sáng tạo cho sinh viên, giảng viên, nhà khoa học.
Một đại học đổi mới sáng tạo phải tạo được dòng chảy liên tục từ đào tạo đến nghiên cứu, từ nghiên cứu đến công nghệ, từ công nghệ đến sản phẩm, từ sản phẩm đến doanh nghiệp, và từ doanh nghiệp quay trở lại nuôi dưỡng đại học. Đó mới là hệ sinh thái đại học hiện đại.
Cạnh tranh đại học ngày nay thực chất là cạnh tranh nhân tài. Muốn ĐHQGHN vươn lên tầm khu vực và quốc tế, phải có chính sách đủ mạnh để thu hút giáo sư giỏi, nhà khoa học trẻ xuất sắc, chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài và học giả quốc tế.
Chính sách nhân tài không thể chỉ dừng ở lời mời gọi, mà phải đi kèm điều kiện làm việc, phòng thí nghiệm, nhóm nghiên cứu, kinh phí, nhà ở, học bổng nghiên cứu sinh, quyền tự chủ học thuật và môi trường khoa học chuyên nghiệp.
Đặc biệt, cần tạo điều kiện cho các nhà khoa học trẻ phát triển độc lập. Một đại học mạnh phải có các thế hệ kế cận mạnh. Các nhà khoa học trẻ cần được giao nhiệm vụ lớn, được hỗ trợ xây dựng nhóm nghiên cứu, được kết nối quốc tế và được đánh giá bằng chuẩn mực học thuật minh bạch.
Trong kỷ nguyên AI và chuyển đổi số, đại học không thể chỉ truyền đạt tri thức có sẵn. Đại học phải đào tạo con người có tư duy phản biện, năng lực tự học, năng lực liên ngành, năng lực số, ngoại ngữ, tinh thần sáng tạo và ý thức trách nhiệm xã hội. Sinh viên ĐHQGHN phải được chuẩn bị không chỉ để có việc làm, mà để có khả năng dẫn dắt, thích ứng và tạo ra giá trị mới.
Các chương trình đào tạo cần linh hoạt hơn, liên ngành hơn và gắn với thực tiễn hơn. Những bài toán lớn hiện nay đều là bài toán liên ngành. Trí tuệ nhân tạo không chỉ là công nghệ thông tin, mà còn liên quan đến toán học, đạo đức, luật, giáo dục và quản trị. Bán dẫn không chỉ là kỹ thuật điện tử, mà còn liên quan đến vật lý, vật liệu, thiết kế, công nghiệp chế tạo và chuỗi cung ứng. Phát triển bền vững không chỉ là môi trường, mà còn là kinh tế, xã hội, công nghệ và chính sách công.
Để đạt được mục tiêu đó, ĐHQGHN cần có Quy chế đào tạo riêng, có những khác biệt với Quy chế đào tạo của Bộ GD&ĐT để thí điểm triển khai các chương trình đào tạo mới, các ngành mới, các mô hình đào tạo mới chưa từng có trong tiền lệ.
ĐHQGHN phải trở thành một địa chỉ tiêu biểu của trí tuệ Việt Nam trên trường quốc tế. Phải là nơi có nền tảng khoa học cơ bản mạnh. Vì khoa học cơ bản không mạnh thì không thể làm chủ được các công nghệ lõi, công nghệ chiến lược. Đây phải là nơi các nhà khoa học lỗi lạc, học giả lớn, các nhà lãnh đạo, các trường đại học hàng đầu, các tập đoàn công nghệ và sinh viên quốc tế tìm đến để trao đổi tri thức, hợp tác nghiên cứu và hiểu hơn về Việt Nam.
Nội lực và sức mạnh về khoa học cơ bản mạnh còn là nền tảng để hội nhập quốc tế. Ngoại giao học thuật trên nền tảng uy tín về học thuật không chỉ giúp nâng cao thứ hạng đại học, mà còn góp phần lan tỏa sức mạnh mềm, bản sắc văn hóa và uy tín quốc gia.
Một đại học lớn phải có tinh thần tự do học thuật, liêm chính khoa học, tranh luận học thuật lành mạnh và khát vọng phụng sự. Người thầy không chỉ truyền đạt kiến thức, mà còn phải truyền cảm hứng, nhân cách, niềm tin vào khoa học và trách nhiệm với đất nước. Người học không chỉ học để lập thân, mà còn phải học để phụng sự cộng đồng và đóng góp cho quốc gia.
Theo tôi, sau chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, ĐHQGHN cần sớm xây dựng một chương trình hành động cụ thể cho giai đoạn 2026–2030, tầm nhìn đến 2035. Chương trình đó cần xác định rõ những ngành nào phấn đấu vào nhóm hàng đầu châu Á, những ngành nào vào nhóm 100 thế giới, những trung tâm nghiên cứu nào đạt chuẩn quốc tế, những công nghệ nào cần làm chủ, những sản phẩm nào cần hình thành, những chính sách nào cần tư vấn và những chương trình đào tạo nào cần đổi mới.
Cùng với đó, cần có cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa ĐHQGHN với các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp và các đối tác quốc tế. Giáo dục đại học không thể phát triển nếu tách khỏi nhu cầu phát triển quốc gia. Khoa học công nghệ không thể mạnh nếu thiếu đặt hàng lớn.
Đổi mới sáng tạo không thể thành công nếu thiếu doanh nghiệp và thị trường. Vì vậy, ĐHQGHN – với sứ mệnh nòng cột trong hệ thống giáo dục đại học của quốc gia – cần đứng ở vị trí trung tâm của mạng lưới tri thức – chính sách – công nghệ – doanh nghiệp – xã hội.
Tôi cho rằng phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đặt ra một yêu cầu rất rõ: ĐHQGHN phải hành động quyết liệt hơn, đổi mới mạnh mẽ hơn, bứt phá rõ rệt hơn. Đây vừa là niềm vinh dự, vừa là trách nhiệm rất lớn. ĐHQGHN đã có truyền thống, có đội ngũ, có vị thế, có niềm tin của Đảng, Nhà nước và xã hội. Điều quan trọng hiện nay là biến niềm tin đó thành chương trình hành động, biến mục tiêu thành kết quả, biến truyền thống thành động lực phát triển mới.
Tôi vô cùng cảm động khi tại Lễ mít tinh kỷ niệm 120 năm ĐHQGHN, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đánh giá “Đại học Quốc gia Hà Nội đã trở thành một biểu tượng rực rỡ của trí tuệ Việt Nam, là nơi hội tụ khát vọng học thuật, hun đúc nhân tài, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước”. Đây thực sự là sự cổ vũ mạnh mẽ với các thế hệ thầy và trò ĐHQGHN. 120 năm ĐHQGHN với những trang sử vẻ vang, tự hào.
Với bề dày 120 năm, với khát vọng đổi mới và với sự quan tâm đặc biệt của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tôi tin tưởng rằng ĐHQGHN có đủ điều kiện để trở thành biểu tượng của trí tuệ Việt Nam trong thế kỷ XXI; đồng thời góp phần dẫn dắt hệ thống giáo dục đại học Việt Nam phát triển theo hướng hiện đại, hội nhập, sáng tạo và phụng sự đất nước.
GS.TSKH Nguyễn Đình Đức – Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội
Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Lễ kỷ niệm 120 năm Ngày truyền thống Đại học Quốc gia Hà Nội là những chỉ đạo có ý nghĩa rất lớn, không chỉ đối với riêng Đại học Quốc gia Hà Nội mà còn đối với toàn bộ hệ thống giáo dục đại học Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.
Tôi vô cùng cảm động khi Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đánh giá “Đại học Quốc gia Hà Nội đã trở thành một biểu tượng rực rỡ của trí tuệ Việt Nam, là nơi hội tụ khát vọng học thuật, hun đúc nhân tài, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước”. Đây thực sự là sự cổ vũ mạnh mẽ với các thế hệ thầy và trò Đại học Quốc gia Hà Nội. 120 năm Đại học Quốc gia Hà Nội với những trang sử vẻ vang, tự hào.

Tôi cho rằng điểm rất sâu sắc trong bài phát biểu là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước là đã đặt Đại học Quốc gia Hà Nội trong dòng chảy lịch sử 120 năm của nền giáo dục đại học hiện đại Việt Nam, nhưng đồng thời không dừng lại ở niềm tự hào quá khứ.
Truyền thống chỉ thật sự có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành trách nhiệm hiện tại và năng lực kiến tạo tương lai. Hai chữ “Quốc gia” trong tên gọi Đại học Quốc gia Hà Nội vì vậy không chỉ là danh xưng, mà là một lời cam kết: phải phụng sự quốc gia, phải giải quyết những bài toán lớn của đất nước, phải đào tạo những con người có năng lực dẫn dắt và phải tạo ra tri thức mới có giá trị cho Việt Nam và thế giới.
Tôi đặc biệt tâm đắc với yêu cầu xây dựng Đại học Quốc gia Hà Nội thành một đại học tinh hoa, hiện đại, đa ngành, đa lĩnh vực, vận hành theo mô hình đại học đổi mới sáng tạo. Tinh hoa ở đây không nên hiểu hẹp là một môi trường đào tạo chọn lọc về đầu vào, mà phải được đo bằng chất lượng học thuật, năng lực nghiên cứu đỉnh cao, khả năng tạo ra công nghệ chiến lược, sức ảnh hưởng chính sách và năng lực phụng sự đất nước. Một đại học tinh hoa phải là nơi những nhà khoa học giỏi nhất, lỗi lạc nhất, những sinh viên xuất sắc nhất, chuyên gia công nghệ, doanh nghiệp và cơ quan quản lý cùng gặp nhau để giải quyết những vấn đề mà quốc gia cần, từng đơn vị riêng lẻ không thể giải quyết được.

Để thực hiện được nhiệm vụ này, theo tôi trước hết cần đổi mới mạnh mẽ quản trị đại học.
Đại học Quốc gia Hà Nội cần được vận hành theo nguyên tắc quản trị bằng mục tiêu, bằng sản phẩm đầu ra và bằng tác động xã hội. Mỗi trường đại học thành viên, mỗi viện nghiên cứu, mỗi nhóm nghiên cứu mạnh cần có nhiệm vụ rõ ràng, chỉ tiêu rõ ràng và cơ chế đánh giá rõ ràng.
Không thể chỉ đo thành tích bằng số lượng đề tài, số lượng công bố hay quy mô tuyển sinh, mà phải đo bằng chất lượng công bố, số lượng bằng sáng chế, sản phẩm công nghệ được ứng dụng, chính sách được tư vấn, doanh nghiệp khoa học công nghệ được hình thành, và đóng góp cụ thể cho các ngành kinh tế – xã hội.
Thứ hai, phải tháo gỡ “điểm nghẽn” về thể chế và cơ chế tự chủ. Đại học muốn sáng tạo thì không thể bị trói buộc bởi những cơ chế hành chính quá cứng nhắc. Tự chủ đại học phải đi liền với trách nhiệm giải trình, nhưng trách nhiệm giải trình không nên biến thành thủ tục hóa. Luật Giáo dục đã có Điều 12 quy định về tự chủ cao của Đại học Quốc gia Hà Nội, nhưng các chính sách quy định của các bộ, ngành triển khai điều này của Luật còn chậm và chưa thực sự “cởi trói” mạnh mẽ về tự chủ cho Đại học Quốc gia Hà Nội.

Tôi cho rằng, để thực hiện thành công chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước hôm nay, thời gian tới cần trao cho Đại học Quốc gia Hà Nội quyền chủ động cao hơn trong học thuật, tuyển dụng, đãi ngộ nhân tài, đặt hàng nghiên cứu, hợp tác quốc tế, sử dụng tài sản công, thành lập doanh nghiệp khoa học công nghệ và phân bổ nguồn lực nội bộ. Một đại học quốc gia muốn cạnh tranh với các đại học hàng đầu châu Á và thế giới, thì cần có cơ chế đủ mạnh, đủ linh hoạt và đủ khác biệt.
Thứ ba, cần xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh và trung tâm xuất sắc theo chuẩn quốc tế. Muốn có ngành mũi nhọn vào nhóm 100 thế giới, không thể đầu tư dàn trải. Đại học Quốc gia Hà Nội cần lựa chọn một số lĩnh vực có lợi thế và có ý nghĩa chiến lược đối với đất nước, như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, vật liệu mới, công nghệ sinh học, dữ liệu lớn, khoa học bền vững, năng lượng mới, khoa học giáo dục, khoa học chính sách và Việt Nam học. Với mỗi lĩnh vực, cần hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh, trung tâm nghiên cứu liên ngành có trưởng nhóm đủ uy tín, đội ngũ kế cận mạnh, phòng thí nghiệm hiện đại, ngân sách ổn định dài hạn và cơ chế thu hút chuyên gia giỏi của quốc tế.
Thứ tư, cần gắn nghiên cứu khoa học với các bài toán lớn của quốc gia. Đây là điểm rất quan trọng trong phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước. Đại học không thể chỉ là nơi sản xuất tri thức trong phạm vi hẹp của bài báo khoa học. Tri thức đại học phải trở thành chính sách tốt hơn, công nghệ tốt hơn, doanh nghiệp mạnh hơn, địa phương phát triển hơn và đời sống nhân dân tốt hơn.
Đại học Quốc gia Hà Nội cần chủ động đề xuất các chương trình nghiên cứu lớn theo đặt hàng quốc gia, chẳng hạn: chuyển đổi số trong quản trị nhà nước, phát triển nguồn nhân lực bán dẫn, ứng dụng AI trong giáo dục và y tế, mô hình đô thị thông minh, an ninh phi truyền thống, biến đổi khí hậu, kinh tế xanh, văn hóa số và phát triển con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Thứ năm, phải xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thực chất tại Hòa Lạc. Khu đô thị Đại học Quốc gia Hà Nội tại Hòa Lạc cần được nhìn như một “thành phố đại học – công nghệ – đổi mới sáng tạo”, chứ không chỉ là một khu giảng đường mới.
Việc kết nối hữu cơ với Khu Công nghệ cao Hòa Lạc là định hướng rất đúng. Ở đó, cần có phòng thí nghiệm mở, trung tâm ươm tạo, quỹ đầu tư mạo hiểm đại học, không gian làm việc chung cho sinh viên khởi nghiệp, chương trình đặt hàng từ doanh nghiệp, và cơ chế để giảng viên – sinh viên có thể đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường.
Một đại học đổi mới sáng tạo phải cho phép tri thức đi từ bài giảng đến phòng thí nghiệm, từ phòng thí nghiệm đến sản phẩm, từ sản phẩm đến doanh nghiệp và từ doanh nghiệp quay trở lại nuôi dưỡng nghiên cứu.
Thứ sáu, cần có chính sách đột phá về nhân tài. Cạnh tranh đại học ngày nay trước hết là cạnh tranh nhân tài. Đại học Quốc gia Hà Nội phải có cơ chế thu hút giáo sư giỏi, nhà khoa học trẻ xuất sắc, chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài và học giả quốc tế.

Muốn vậy, chính sách đãi ngộ không thể chỉ dựa vào lương hành chính. Cần có gói hỗ trợ nghiên cứu, phòng thí nghiệm, nhóm trợ lý, nhà ở, học bổng nghiên cứu sinh, quyền tự chủ học thuật và môi trường làm việc chuyên nghiệp. Đồng thời, cần tạo điều kiện để các nhà khoa học trẻ có thể phát triển độc lập, đứng đầu nhóm nghiên cứu, tham gia mạng lưới quốc tế và được đánh giá bằng chuẩn mực học thuật minh bạch.
Thứ bảy, phải đổi mới đào tạo theo hướng khai phóng, liên ngành và gắn với năng lực tương lai. Sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội không chỉ cần kiến thức chuyên môn, mà cần tư duy phản biện, năng lực số, ngoại ngữ, khả năng làm việc liên ngành, tinh thần phụng sự và bản lĩnh hội nhập.
Các chương trình đào tạo cần được thiết kế linh hoạt hơn, cho phép sinh viên học giữa các ngành, kết hợp khoa học cơ bản với công nghệ, nhân văn với dữ liệu, kinh tế với đổi mới sáng tạo. Trong kỷ nguyên AI, giáo dục đại học không thể chỉ truyền đạt kiến thức có sẵn, mà phải dạy người học biết đặt câu hỏi đúng, biết học suốt đời, biết sử dụng công nghệ có trách nhiệm và biết sáng tạo giá trị mới.
Thứ tám, cần nâng cao vai trò của Đại học Quốc gia Hà Nội như một “túi khôn” của quốc gia. Đại học Quốc gia Hà Nội có đội ngũ trí thức đa ngành, có nền tảng khoa học cơ bản, khoa học xã hội, nhân văn, công nghệ, kinh tế, luật, giáo dục và y sinh. Đây là lợi thế rất đặc biệt.
Nhà nước cần có cơ chế đặt hàng thường xuyên để Đại học Quốc gia Hà Nội tham gia tư vấn chính sách chiến lược, phản biện khoa học, đánh giá tác động chính sách và xây dựng các mô hình phát triển mới. Một quốc gia muốn phát triển nhanh và bền vững phải biết dựa vào tri thức, và một đại học quốc gia phải đủ năng lực để cung cấp luận cứ khoa học cho những quyết sách lớn.
Thứ chín, cần đẩy mạnh ngoại giao học thuật. Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược toàn cầu, đại học không chỉ là cơ sở đào tạo mà còn là một chủ thể quan trọng của sức mạnh mềm quốc gia. Đại học Quốc gia Hà Nội cần trở thành “điểm đến” của các học giả lớn, nguyên thủ, nhà hoạch định chính sách, tập đoàn công nghệ và sinh viên quốc tế.
Muốn vậy, phải nâng cao chất lượng công bố quốc tế, mở rộng chương trình đào tạo bằng tiếng Anh, phát triển các chương trình liên kết có chọn lọc, tham gia mạnh hơn vào các mạng lưới đại học hàng đầu và xây dựng hình ảnh học thuật Việt Nam chuyên nghiệp, văn minh, có bản sắc.
Thứ mười, cần đẩy mạnh liên kết với doanh nghiệp. Một đại học đổi mới sáng tạo phải có những con người có hoài bão và khát vọng, mạnh dạn dấn thân đổi mới sáng tạo. Thực hiện thật tốt và hiệu quả mô hình hợp tác bốn nhà: Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp và nhà khoa học.
Tôi cũng cho rằng các nhiệm vụ mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm giao cho Đại học Quốc gia Hà Nội không chỉ là nhiệm vụ của riêng một đại học. Đây là thông điệp cho toàn hệ thống giáo dục đại học Việt Nam. Chúng ta phải chuyển mô hình từ đại học nghiên cứu sang đại học nghiên cứu đổi mới sáng tạo, từ tư duy “đào tạo theo khả năng sẵn có” sang tư duy “đào tạo theo nhu cầu phát triển quốc gia”; chuyển từ nghiên cứu phân tán sang nghiên cứu có trọng tâm; chuyển từ quản lý đầu vào sang quản trị theo kết quả; chuyển từ hợp tác hình thức sang liên kết thực chất giữa đại học – Nhà nước – doanh nghiệp – địa phương – xã hội.
Có thể thấy, phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là một định hướng chiến lược rất rõ ràng: Đại học Quốc gia Hà Nội phải vươn lên mạnh mẽ hơn, không chỉ để xứng đáng với truyền thống 120 năm, mà còn để trở thành lực lượng tiên phong đưa giáo dục đại học, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới. Vấn đề quyết định hiện nay là hành động. Hành động phải quyết liệt, có trọng tâm, có sản phẩm, có trách nhiệm giải trình và có khát vọng lớn.
Với truyền thống vẻ vang, đội ngũ trí thức mạnh, vị thế quốc gia và sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước, tôi tin rằng Đại học Quốc gia Hà Nội có đủ điều kiện để trở thành biểu tượng của trí tuệ Việt Nam trong thế kỷ XXI; đồng thời góp phần dẫn dắt hệ thống giáo dục đại học Việt Nam phát triển theo hướng hiện đại, hội nhập, sáng tạo và phụng sự đất nước.
Để triển khai hiệu quả các chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, tôi đề xuất một số nhóm giải pháp cụ thể.
Một là, xây dựng chương trình hành động 5 năm cho Đại học Quốc gia Hà Nội sau chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước. Trong đó, xác định rõ các mục tiêu đến năm 2030: nhóm ngành nào vào top châu Á, nhóm ngành nào phấn đấu top 100 thế giới, trung tâm nghiên cứu nào đạt chuẩn quốc tế, sản phẩm công nghệ nào phải hình thành, chính sách nào phải được tư vấn, doanh nghiệp khoa học công nghệ nào phải được ươm tạo.
Hai là, thành lập các chương trình nghiên cứu trọng điểm quốc gia đặt tại Đại học Quốc gia Hà Nội, gắn với các lĩnh vực công nghệ chiến lược như AI, bán dẫn, vật liệu mới, công nghệ sinh học, năng lượng mới, dữ liệu lớn và chuyển đổi số. Mỗi chương trình cần có cơ chế tài chính nhiều năm, hội đồng khoa học quốc tế, mục tiêu sản phẩm rõ ràng và sự tham gia của doanh nghiệp.
Ba là, ban hành cơ chế đặc thù cho Đại học Quốc gia Hà Nội về tài chính, nhân lực, hoạt động khoa học công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Nhà khoa học phải được hưởng lợi xứng đáng từ kết quả nghiên cứu. Phòng thí nghiệm phải có quyền hình thành doanh nghiệp spin-off. Sinh viên và nghiên cứu sinh phải được tham gia các dự án thật, sản phẩm thật, bài toán thật. Đại học Quốc gia cũng phải có Quy chế đào tạo đặc thù, với những chương trình thí điểm, mô hình thí điểm, có những điểm khác biệt với Quy chế của Bộ giáo dục và Đào tạo.
Bốn là, thiết lập hệ thống đánh giá đại học theo tác động. Cần đánh giá không chỉ số lượng công bố, mà cả chất lượng học thuật, số trích dẫn, bằng sáng chế, chuyển giao công nghệ, doanh thu từ đổi mới sáng tạo, số doanh nghiệp khởi nguồn từ đại học, số chính sách được tư vấn, số sinh viên có việc làm chất lượng cao và mức độ đóng góp cho địa phương, doanh nghiệp, quốc gia.
Năm là, đầu tư có trọng điểm cho khoa học cơ bản. Không có khoa học cơ bản mạnh thì không thể có công nghệ lõi, công nghệ nguồn. Những lĩnh vực như toán học, vật lý, hóa học, sinh học, khoa học vật liệu, cơ học, khoa học máy tính, khoa học giáo dục, khoa học xã hội và nhân văn phải được coi là nền móng của năng lực tự chủ tri thức quốc gia.
Sáu là, đổi mới mạnh chương trình đào tạo theo mô hình liên ngành. Các bài toán hiện đại không nằm gọn trong một ngành. AI cần toán học, khoa học máy tính, đạo đức, luật và quản trị. Bán dẫn cần vật lý, vật liệu, điện tử, thiết kế vi mạch và công nghiệp chế tạo. Phát triển bền vững cần kỹ thuật, kinh tế, xã hội học, luật và khoa học môi trường. Vì vậy, cần thiết kế lại các chương trình đào tạo theo hướng liên ngành, mở, linh hoạt và gắn với thực tiễn.
GS.TSKH Nguyễn Đình Đức – Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội
Cách đây tròn 120 năm, ngày 16/5/1906, Đại học Đông Dương – tiền thân của Đại học Quốc gia Hà Nội – được thành lập, đánh dấu sự ra đời của nền giáo dục đại học hiện đại đầu tiên ở Việt Nam. Sự xuất hiện của Đại học Đông Dương đã từng bước thay thế nền Nho học truyền thống bằng hệ thống tri thức khoa học, kỹ thuật và y học hiện đại; đồng thời đặt nền móng cho việc đào tạo bài bản nhiều lĩnh vực như y khoa, luật học, kỹ thuật… tại Việt Nam.

Sự ra đời của Đại học Đông Dương cũng góp phần hình thành một thế hệ trí thức mới mang tư duy khoa học, tinh thần lý tính và khả năng tiếp cận tri thức toàn cầu. Từ mái trường này, nhiều cựu sinh viên đã trở thành những nhân vật tiêu biểu của đất nước trên các lĩnh vực chính trị, khoa học, giáo dục, văn học, nghệ thuật… góp phần quan trọng vào tiến trình phát triển và hiện đại hóa quốc gia.

Năm 1945, thắng lợi của Cách mạng tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã mở ra một kỷ nguyên mới của dân tộc. Trong bối cảnh ấy, ngày 15/11/1945, tại Giảng đường lớn của Đại học Đông Dương ở số 19 Lê Thánh Tông – nay là Giảng đường Ngụy Như Kon Tum – đã diễn ra Lễ khai giảng đầu tiên của nền giáo dục đại học Việt Nam độc lập với sự tham dự của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Tại buổi lễ lịch sử này, Bộ trưởng Bộ Giáo dục đầu tiên của nước Việt Nam mới, Giáo sư Nguyễn Văn Huyên, đã khẳng định vai trò của nền đại học mới đối với tương lai dân tộc, không chỉ trong công cuộc đấu tranh giành độc lập mà còn trong hành trình kiến tạo và phát triển văn hóa, tri thức của đất nước. Những tư tưởng được phát biểu tại lễ khai giảng ấy có thể xem như bản tuyên ngôn đầu tiên về sứ mệnh của ĐHQGHN – một trung tâm đào tạo, nghiên cứu và phụng sự quốc gia – và cho đến hôm nay vẫn còn nguyên giá trị.
Tiếp nối truyền thống đó, năm 1993, Đại học Quốc gia Hà Nội được thành lập theo Nghị định số 97/CP ngày 10/12/1993 của Chính phủ với sứ mệnh là đại học trọng điểm quốc gia, trung tâm đào tạo chất lượng cao, trình độ cao gắn với nghiên cứu khoa học, chuyển giao tri thức và công nghệ đa ngành, đa lĩnh vực; giữ vai trò nòng cốt và đầu tàu đổi mới của hệ thống giáo dục đại học Việt Nam, từng bước vươn tầm khu vực và quốc tế.


Sau 120 năm phát triển, từ tiền thân là Đại học Đông Dương, ĐHQGHN hôm nay đã không ngừng lớn mạnh, khẳng định vị thế là đại học hàng đầu Việt Nam với nhiều dấu ấn tiên phong trong đào tạo, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế.
Khi mới thành lập, ĐHQGHN chỉ có 3 trường đại học thành viên là Trường ĐH Tổng hợp Hà Nội, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội và Trường ĐH Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội. Đến nay, ĐHQGHN đã cơ bản hoàn chỉnh cơ cấu đa ngành, đa lĩnh vực với 9 trường đại học thành viên, 3 trường trực thuộc và 6 viện nghiên cứu thành viên và trực thuộc.
Quy mô đào tạo của ĐHQGHN hiện đã đạt hơn 70.000 sinh viên, trong đó khối ngành kỹ thuật, công nghệ và khoa học sức khỏe chiếm khoảng 35%. Với cơ cấu đa ngành, đa lĩnh vực cùng quy mô đào tạo ngày càng mở rộng, ĐHQGHN đã phát triển mạnh mẽ từ nền tảng khoa học cơ bản để trở thành trung tâm đào tạo và nghiên cứu có tiềm lực toàn diện, đủ khả năng tham gia giải quyết các bài toán khoa học công nghệ trọng điểm của đất nước, kể cả ở những lĩnh vực then chốt như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn và vi mạch, tự động hóa, vật liệu và năng lượng mới, hàng không vũ trụ, công nghệ sinh học…
Tính đến tháng 12/2025, toàn ĐHQGHN đã có 438 chương trình đào tạo, trong đó có 162 chương trình đào tạo bậc đại học, 160 chương trình đào tạo thạc sĩ và 116 chương trình đào tạo tiến sĩ.
ĐHQGHN là cơ sở giáo dục đại học đầu tiên của Việt Nam triển khai đào tạo trình độ sau đại học. Những luận án phó tiến sĩ đầu tiên (nay là tiến sĩ) và tiến sĩ khoa học đầu tiên của Việt Nam đã được bảo vệ tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội vào các năm 1976 và 1982.
Bên cạnh các chương trình đào tạo hệ chuẩn, ĐHQGHN sớm xây dựng những mô hình đào tạo đặc biệt nhằm phát hiện, bồi dưỡng và phát triển nhân tài. Năm 1997, lần đầu tiên tại Việt Nam, ĐHQGHN triển khai Dự án “Đào tạo cử nhân khoa học tài năng”; đến năm 2001, dự án được mở rộng và đổi tên thành “Đào tạo nguồn nhân lực tài năng”.
Học sinh Trường THPT chuyên Khoa học Tự nhiên nhiều năm liên tiếp khẳng định vị thế dẫn đầu khối trường chuyên của Việt Nam trên các đấu trường Olympic quốc tế và khu vực với tổng cộng 317 huy chương, gồm 83 huy chương vàng, 91 huy chương bạc và 79 huy chương đồng.
Từ năm 2006, ĐHQGHN bắt đầu áp dụng các yếu tố tích cực của phương thức đào tạo tín chỉ và đến năm 2010 đã triển khai toàn diện trong toàn hệ thống. Đến nay đã có hơn 5.000 sinh viên được cấp bằng kép và gần 1.000 sinh viên tốt nghiệp sớm từ một đến hai học kỳ.
ĐHQGHN cũng là một trong những cơ sở giáo dục đại học đầu tiên của Việt Nam định hướng phát triển theo mô hình đại học nghiên cứu, gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo và nghiên cứu khoa học thông qua việc xây dựng, phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh trong trường đại học.
Đến tháng 5/2026, toàn ĐHQGHN đã hình thành hàng trăm nhóm nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực, trong đó có 50 nhóm nghiên cứu mạnh được công nhận cấp ĐHQGHN. Các nhóm nghiên cứu này đóng vai trò quan trọng trong phát triển tiềm lực khoa học công nghệ, mở ngành đào tạo mới, thành lập các bộ môn và phòng thí nghiệm mới trong toàn hệ thống.
Từ năm 2018, lần đầu tiên hai Đại học Quốc gia của Việt Nam lọt vào top 1000 đại học tốt nhất trong bảng xếp hạng QS thế giới; đến năm 2025, ĐHQGHN vươn lên nhóm 851–900 thế giới. Cũng trong năm này, 12 lĩnh vực đào tạo của ĐHQGHN được xếp hạng quốc tế, trong đó nhiều lĩnh vực nằm trong nhóm 400-500 thế giới.
Đặc biệt, từ năm 2024, Trường ĐH Công nghệ trở thành trường đại học công lập đầu tiên của Việt Nam thực hiện miễn toàn bộ học phí và cấp học bổng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh.
Trong bối cảnh thế giới chuyển dịch mạnh mẽ sang nền kinh tế tri thức với những bước tiến đột phá về trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, vật liệu mới, năng lượng sạch và chuyển đổi số, yêu cầu đặt ra đối với ĐHQGHN không chỉ là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao mà còn phải giữ vai trò tiên phong trong phát triển các lĩnh vực khoa học công nghệ mũi nhọn.
Từ định hướng đó, những năm gần đây, ĐHQGHN đã tiên phong mở nhiều chương trình đào tạo mới trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, thiết kế vi mạch, công nghệ bán dẫn, khoa học dữ liệu, công nghệ nano, kỹ thuật năng lượng, công nghệ hàng không vũ trụ, robot, an toàn thông tin…
Gắn với việc triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW, từ năm 2025, ĐHQGHN tiếp tục chuyển đổi mạnh mẽ từ mô hình đại học nghiên cứu sang mô hình đại học nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, trong đó hoạt động đào tạo được gắn chặt hơn với nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Nhân dịp kỷ niệm 120 năm thành lập (1906–2026), tin tưởng rằng ĐHQGHN sẽ tiếp tục phát huy truyền thống tiên phong và đổi mới, khẳng định vị thế là đại học hàng đầu, nòng cốt của hệ thống giáo dục đại học Việt Nam; hội nhập ngày càng sâu rộng với giáo dục đại học thế giới và tiếp tục nhận được sự quan tâm, đồng hành của Đảng, Nhà nước, các bộ, ngành và toàn xã hội để phát huy tối đa nội lực, thu hút mạnh mẽ các nguồn lực phát triển, từng bước hiện thực hóa khát vọng vươn tầm vào nhóm các đại học hàng đầu thế giới.
GS.TSKH Nguyễn Đình Đức – Nguyên Trưởng Ban Đào tạo ĐHQGHN, Nguyên Chủ tịch Hội đồng trường Đại học Công nghệ, ĐHQGHN
Theo GS.TSKH.VS Nguyễn Đình Đức, trước yêu cầu phát triển mới của đất nước, MTTQ Việt Nam cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức hoạt động. Trong đó, phản biện xã hội phải được thực hiện “sớm hơn, sâu hơn và có trách nhiệm hơn”, trên dẫn chứng khoa học, dữ liệu và dự báo chính sách.
Trước thềm Đại hội Đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, phóng viên Báo Đại đoàn kết đã có cuộc trao đổi với GS.TSKH.VS Nguyễn Đình Đức – Uỷ viên Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam khoá X; nguyên Chủ tịch Hội đồng Trường Đại học Công nghệ, ĐHQGHN; Phó Chủ tịch Hội Cơ học Việt Nam; Viện sỹ Viện Hàn lâm Khoa học Tự nhiên Nga về vai trò của đội ngũ trí thức, nhà khoa học trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, những điểm mới của Đại hội cũng như kỳ vọng đối với MTTQ Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

GS.TSKH.VS Nguyễn Đình Đức: Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, đội ngũ trí thức, nhà khoa học, chuyên gia, văn nghệ sĩ, doanh nhân trí thức trong và ngoài nước là nguồn lực đặc biệt quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây không chỉ là lực lượng tạo ra tri thức, công nghệ, sáng kiến mà còn có khả năng tham gia tư vấn chiến lược, phản biện chính sách và dự báo xu thế phát triển.
Muốn phát huy hiệu quả hơn nguồn lực này, trước hết Mặt trận cần có cơ chế tập hợp trí thức thực chất, thường xuyên và chuyên sâu hơn. Không chỉ dừng ở các hội nghị, hội thảo, cần hình thành các mạng lưới chuyên gia theo từng lĩnh vực như khoa học công nghệ, giáo dục, chuyển đổi số, môi trường, y tế, văn hóa, pháp luật… để tham gia tư vấn, phản biện và đề xuất giải pháp cho những vấn đề lớn của đất nước.
Thứ hai, cần xây dựng cơ chế “đặt hàng” rõ ràng đối với đội ngũ trí thức. Trí thức muốn đóng góp nhưng cần có vấn đề cụ thể, có cơ chế tiếp nhận và phản hồi. Nếu Mặt trận đặt ra các vấn đề lớn như phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đổi mới giáo dục, chuyển đổi số hay phát triển vùng sâu, vùng xa thì trí thức hoàn toàn có thể tham gia bằng các báo cáo tư vấn, khuyến nghị chính sách hay sáng kiến cộng đồng.
Thứ ba, cần chú trọng kết nối trí thức trẻ và trí thức Việt Nam ở nước ngoài. Đây là lực lượng tiếp cận nhanh với công nghệ mới và chuẩn mực quốc tế. Mặt trận có thể trở thành cầu nối để trí thức Việt Nam toàn cầu đóng góp cho đất nước thông qua các diễn đàn chuyên đề, chương trình cố vấn chính sách, hợp tác nghiên cứu và đổi mới sáng tạo.
Trong bối cảnh Nghị quyết 57-NQ/TW xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, vai trò kết nối trí thức của Mặt trận càng trở nên quan trọng. Mặt trận cần trở thành một không gian đoàn kết mới của trí thức Việt Nam: Dân chủ, cởi mở, tôn trọng khác biệt, trọng dụng tài năng và hướng mọi đóng góp vào mục tiêu phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Tôi cho rằng thời gian qua, hoạt động tập hợp, hiến kế, giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận đã có nhiều đổi mới tích cực, ngày càng thể hiện rõ vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước và góp ý đối với các chủ trương, chính sách lớn.
Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển mới, hoạt động này cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn nữa. Đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển với nhiều vấn đề mới như trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, biến đổi khí hậu, cải cách giáo dục hay phát triển công nghệ cao. Vì vậy, phản biện xã hội cần dựa nhiều hơn trên bằng chứng khoa học, dữ liệu, phân tích định lượng, so sánh quốc tế và dự báo tác động chính sách.
Theo tôi, phản biện xã hội trong giai đoạn tới cần đi theo hướng “sớm hơn, sâu hơn và có trách nhiệm hơn”. “Sớm hơn” nghĩa là chuyên gia cần được tham gia ngay từ giai đoạn hình thành chính sách. “Sâu hơn” là phản biện phải có luận cứ khoa học và đánh giá được tác động thực tiễn. “Có trách nhiệm hơn” nghĩa là phản biện không phải để phủ định mà để hoàn thiện chính sách, để gần dân và khả thi hơn.
Một điểm rất quan trọng là cần có cơ chế phản hồi sau phản biện để trí thức, nhà khoa học, chuyên gia biết ý kiến của mình được tiếp thu như thế nào. Đồng thời, Mặt trận cũng cần đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động hiến kế, phản biện để huy động trí tuệ xã hội thường xuyên và hiệu quả hơn.
Đại hội Đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI diễn ra trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Điểm mới đáng chú ý là chương trình hành động nhiệm kỳ 2026–2031 đã bổ sung nội dung tham gia phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, xây dựng xã hội số và đẩy mạnh chuyển đổi số trong hệ thống Mặt trận. Điều đó cho thấy Mặt trận không chỉ làm tốt vai trò đoàn kết, vận động, giám sát, phản biện xã hội theo hướng truyền thống mà đang chuyển mình để đồng hành với những động lực phát triển mới của đất nước. Số lượng trí thức tiêu biểu tham gia Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam nhiệm kỳ này cũng nhiều hơn trước.
Tôi kỳ vọng Đại hội XI sẽ khẳng định mạnh mẽ hơn vai trò của trí thức, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đồng thời, Mặt trận sẽ có cơ chế cụ thể hơn để trí thức tham gia sâu vào các vấn đề lớn của đất nước.
Tôi tin rằng nếu phát huy tốt hơn vai trò tập hợp trí thức, khuyến khích hiến kế và nâng cao chất lượng phản biện xã hội, Mặt trận sẽ tiếp tục là trung tâm đoàn kết rộng lớn của dân tộc và góp phần hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước hùng cường, thịnh vượng vào giữa thế kỷ XXI.
Trân trọng cảm ơn Giáo sư!
Nếu không có đại học mạnh, không có các nhà khoa học giỏi và đội ngũ các công trình sư, tổng công trình sư, không thể có công nghệ lõi. Nếu không có công nghệ lõi, không thể có sản phẩm chiến lược. Và nếu không có sản phẩm chiến lược, quốc gia sẽ không thể tự chủ, giàu mạnh hùng cường và phát triển bền vững.
Trong thế kỷ XXI, công nghệ đã trở thành yếu tố cốt lõi quyết định năng lực cạnh tranh và vị thế của mỗi quốc gia. Những quốc gia thành công đều không chỉ tiếp cận công nghệ, mà chủ động kiến tạo và làm chủ các công nghệ chiến lược. Đối với Việt Nam, trong bối cảnh chuyển đổi mô hình phát triển, việc xây dựng và triển khai chương trình công nghệ chiến lược mang ý nghĩa sống còn, không chỉ về kinh tế mà còn về an ninh, tự chủ và phát triển bền vững.
Một điểm đặc biệt quan trọng trong tư duy phát triển công nghệ chiến lược hiện nay là sự chuyển đổi từ cách tiếp cận dựa trên công nghệ sang cách tiếp cận dựa trên bài toán quốc gia. Điều này thể hiện một bước tiến lớn về nhận thức: công nghệ không phải là điểm xuất phát, mà là công cụ để giải quyết các vấn đề lớn của đất nước.
Theo đó, chuỗi logic phát triển cần được thiết kế theo hướng: từ bài toán quốc gia, đến sản phẩm chiến lược, đến công nghệ lõi và cuối cùng là thị trường. Cách tiếp cận này giúp tránh tình trạng nghiên cứu rời rạc, thiếu định hướng và không gắn với thực tiễn – một hạn chế đã tồn tại trong thời gian dài.

Trong cấu trúc đó, công nghệ lõi đóng vai trò trung tâm, là thước đo năng lực tự chủ quốc gia. Và chính tại điểm này, vai trò của các trường đại học trở nên đặc biệt quan trọng. Nếu doanh nghiệp tập trung vào sản phẩm và thị trường, thì các viện nghiên cứu và trường đại học chính là nơi tạo ra tri thức nền tảng và phát triển công nghệ lõi. Đây là một phân công chiến lược, phản ánh đúng bản chất của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hiện đại.
Các công nghệ lõi không thể hình thành trong môi trường ngắn hạn hay dưới áp lực thương mại tức thời. Chúng đòi hỏi quá trình nghiên cứu dài hạn, tích lũy tri thức sâu và một môi trường học thuật tự do, sáng tạo. Đại học, với sứ mệnh nghiên cứu, sáng tạo tri thức và đào tạo, chính là nơi duy nhất có thể đảm đương vai trò này một cách bền vững. Những lĩnh vực then chốt như trí tuệ nhân tạo, vật liệu tiên tiến, cơ học tính toán, công nghệ sinh học, công nghệ hàng không vũ trụ hay bán dẫn,… đều bắt nguồn từ các nghiên cứu cơ bản trong môi trường đại học, trước khi được chuyển hóa thành các ứng dụng công nghiệp.
Bên cạnh đó, đại học còn là nơi đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao – yếu tố quyết định thành công của mọi chương trình công nghệ lõi, công nghệ chiến lược.
Trong bối cảnh mới, đào tạo đại học không thể dừng lại ở việc truyền thụ kiến thức, mà phải hướng tới phát triển năng lực nghiên cứu, sáng tạo, tư duy hệ thống và khả năng giải quyết các bài toán thực tiễn. Điều này đòi hỏi chương trình đào tạo phải được thiết kế lại, trước hết phải có nền tảng kiến thức cơ bản thật hiện đại – bởi nếu không có nền tảng khoa học cơ bản đủ sâu và mạnh, thì không thể nào vươn tới làm chủ công nghệ lõi, đồng thời đào tạo ở đại học phải gắn kết chặt chẽ với các bài toán lớn của quốc gia và các dự án công nghệ chiến lược. Sinh viên không chỉ học để biết, mà học để làm, để thiết kế và để đổi mới.

Một điểm đột phá khác trong chính sách phát triển công nghệ chiến lược là vai trò của Nhà nước trong việc tạo lập thị trường. Thay vì chỉ tài trợ nghiên cứu, Nhà nước còn đóng vai trò là “người mua” đầu tiên, hoặc tạo ra nhu cầu thị trường đủ lớn cho các sản phẩm chiến lược.
Đây là một công cụ mạnh, đã được nhiều quốc gia như Mỹ, Trung Quốc hay Hàn Quốc áp dụng thành công. Cách tiếp cận này giúp giải quyết một nút thắt quan trọng: đầu ra của nghiên cứu.
Đối với các trường đại học, điều này mở ra cơ hội lớn để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị đổi mới sáng tạo. Xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh để có thể nghiên cứu phát triển sản phẩm mới, chuyển giao công nghệ hoặc thành lập các doanh nghiệp spin-off để thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Khi thị trường được đảm bảo bởi các chính sách công, rủi ro thương mại hóa giảm đáng kể, từ đó tạo động lực mạnh mẽ cho nghiên cứu ứng dụng.
Song song với đó, cơ chế đặt hàng nghiên cứu theo các bài toán lớn cũng giúp định hướng hoạt động khoa học công nghệ một cách hiệu quả hơn. Thay vì các đề tài nhỏ lẻ, phân tán, các trường đại học cần chuyển sang tham gia các chương trình lớn, mang tính liên ngành và có mục tiêu rõ ràng. Điều này đòi hỏi sự thay đổi cả về tổ chức nghiên cứu lẫn tư duy của các nhà khoa học, từ nghiên cứu cá nhân sang nghiên cứu theo nhóm mạnh, từ công bố khoa học sang tạo ra giá trị thực tiễn.
Một yếu tố quan trọng khác là vai trò của tiêu chuẩn trong phát triển công nghệ chiến lược. Khác với tư duy truyền thống, tiêu chuẩn không còn là bước đi sau cùng, mà phải đi trước để định hướng công nghệ và tạo lập thị trường. Việc xây dựng các tiêu chuẩn, kể cả dưới dạng pre-standard, sẽ giúp định hình hướng phát triển, tạo điều kiện cho đấu thầu, mua sắm và sản xuất hàng loạt.
Trong bối cảnh đó, các trường đại học cần tham gia tích cực vào quá trình xây dựng tiêu chuẩn, thông qua nghiên cứu, đánh giá và so sánh quốc tế. Đây không chỉ là nhiệm vụ kỹ thuật, mà còn là một phần của chiến lược hội nhập và nâng cao vị thế khoa học của quốc gia.
Về mặt cơ chế, đổi mới tài chính và quản trị khoa học công nghệ cũng là một điều kiện cần thiết. Việc chuyển sang cơ chế cấp phát ngân sách theo dạng “block funding” giúp giảm đáng kể thủ tục hành chính, tăng tính linh hoạt và trao quyền tự chủ nhiều hơn cho các đơn vị nghiên cứu.
Tuy nhiên, đi kèm với tự chủ là trách nhiệm giải trình, được thể hiện thông qua hệ thống đánh giá theo bốn tầng: đầu vào, đầu ra, kết quả và tác động. Đây là một cách tiếp cận hiện đại, giúp đánh giá đầy đủ hiệu quả của hoạt động khoa học công nghệ, từ nghiên cứu đến ứng dụng và tác động xã hội.
Các trường đại học cần thực hiện một quá trình chuyển đổi toàn diện. Trước hết, cần xây dựng các đại học nghiên cứu mạnh, tập trung vào các lĩnh vực công nghệ chiến lược và có khả năng cạnh tranh quốc tế.
Tiếp theo, cần cải tiến chương trình để người học có nền tảng khoa học cơ bản vững chắc và đổi mới mạnh mẽ hình thức tổ chức quản lý đào tạo gắn với doanh nghiệp, phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong trường đại học, bao gồm các trung tâm nghiên cứu, vườn ươm công nghệ và các doanh nghiệp khởi nguồn từ đại học, triển khai hiệu quả mô hình hợp tác 4 nhà: Nhà nước – doanh nghiệp – nhà khoa học và trường đại học.
Cần triển khai đào tạo các công trình sư, tổng công trình sư ở một số trường đại học công nghệ – kỹ thuật trọng điểm. Nhà nước cũng cần đầu tư cho các chương trình đào tạo cử nhân và kỹ sư tài năng trong những lĩnh vực khoa học – công nghệ mũi nhọn.

Với các chuyên gia, nhà khoa học giỏi cần đổi mới tư duy, sử dụng và giao nhiệm vụ theo nguyên tắc “làm theo nhu cầu, hưởng theo năng lực”.
Việt Nam cũng rất cần xây dựng các khu thử nghiệm đặc biệt (sandbox) với cơ chế linh hoạt, cho phép các trường đại học thử nghiệm công nghệ mới mà không phải xin phép. Đây là điều kiện cần thiết để các trường đại học và các nhà khoa học mạnh dạn dấn thân vào phát triển các lĩnh vực liên quan đến các công nghệ cao liên quan đến an ninh, quốc phòng như UAV, camera AI, hay các lĩnh vực liên quan đến AI, năng lượng mới, đô thị thông minh,…
Cuối cùng, cần tăng cường hợp tác quốc tế, không chỉ để tiếp cận tri thức mới, công nghệ mới, mà còn để tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu và tăng cường tự chủ đại học, để các trường đại học có thể phát huy tốt nhất, nhanh nhất mọi nguồn lực cho sự đổi mới sáng tạo và phát triển.
Tựu trung lại, phát triển công nghệ chiến lược không chỉ là nhiệm vụ của ngành khoa học và công nghệ, mà là một chiến lược tổng thể của quốc gia. Trong chiến lược đó, Nhà nước đóng vai trò kiến tạo và điều phối, doanh nghiệp đóng vai trò triển khai và thương mại hóa, còn các trường đại học giữ vai trò nền tảng – nơi hình thành tri thức, công nghệ lõi, nguồn nhân lực và nhà khoa học có vai trò then chốt trong hệ sinh thái sáng tạo trí thức, công nghệ.
Nếu không có đại học mạnh, không có các nhà khoa học giỏi và đội ngũ các công trình sư, tổng công trình sư, không thể có công nghệ lõi. Nếu không có công nghệ lõi, không thể có sản phẩm chiến lược. Và nếu không có sản phẩm chiến lược, quốc gia sẽ không thể tự chủ, giàu mạnh hùng cường và phát triển bền vững.
Việt Nam đang đứng trước một cơ hội lớn để bứt phá. Điều quan trọng là phải hành động một cách đồng bộ, kiên định và có tầm nhìn dài hạn. Trong hành trình đó, các trường đại học cũng đang đứng trước một “cơ hội vàng” để phát triển.
Trường đại học cần được đặt đúng vị trí của mình – không chỉ là nơi đào tạo, mà còn là nơi nghiên cứu đỉnh cao, sản sinh ra tri thức và các công nghệ lõi, là trụ cột của hệ sinh thái công nghệ chiến lược quốc gia.
GS.TSKH Nguyễn Đình Đức cho rằng, một hệ sinh thái khoa học lành mạnh cần bảo đảm rằng những người trẻ có năng lực thực sự sẽ có cơ hội phát triển, được đánh giá công bằng, được trọng dụng và được hỗ trợ để theo đuổi những ý tưởng nghiên cứu táo bạo.
Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo, khoa học – công nghệ đang trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia.
Trao đổi với phóng viên Báo Đại biểu Nhân dân, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức – Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng, các chính sách trong thời gian tới cần hướng đến việc tạo ra một hệ sinh thái thuận lợi để khuyến khích nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và nuôi dưỡng, phát triển các tài năng trẻ.

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức – Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội
Theo ông, trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế và chính sách nhằm tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo. Điều quan trọng là xây dựng những cơ chế quản lý khoa học linh hoạt, giảm bớt các thủ tục hành chính không cần thiết, đồng thời tăng đầu tư, cũng như tăng quyền chủ động cho các nhà khoa học và các cơ sở nghiên cứu và các trường đại học. Khi nhà khoa học có không gian sáng tạo rộng mở hơn, họ sẽ có điều kiện tập trung và dấn thân vào những nghiên cứu khó, đỉnh cao, có giá trị dài hạn.
Thứ hai, cần có chiến lược đầu tư dài hạn cho khoa học cơ bản và các lĩnh vực công nghệ mũi nhọn như trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu, công nghệ bán dẫn, điện tử-viễn thông, công nghệ vật liệu, công nghệ sinh học,… và các công nghệ lõi.
GS.TSKH Nguyễn Đình Đức đề xuất Quốc hội ban hành những thể chế mạnh hơn nữa để thúc đẩy những chương trình quốc gia nhằm xây dựng, phát triển và hỗ trợ các nhóm nghiên cứu mạnh, các phòng thí nghiệm trọng điểm và các trung tâm đổi mới sáng tạo.
“Các nhóm nghiên cứu chính là các tế bào trong hoạt động đào tạo, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo trong các trường đại học. Quốc hội cần có thể chế và Nhà nước cần có chính sách thỏa đáng thu hút nhân tài, thu hút trí thức trẻ, những nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên tham gia các nhóm nghiên cứu mạnh trong trường đại học, viện nghiên cứu. Những nhóm nghiên cứu mạnh sẽ là môi trường để làm nên những trường phái khoa học, tạo ra các sản phẩm khoa học công nghệ đặc sắc”, ông nói.
Bên cạnh đó, ông cũng cho rằng cần phát huy những nhân tố tích cực, bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của con người Việt Nam, tinh thần tự lực tự cường, hoài bão và khát vọng vươn lên cho thế hệ trẻ. Đây là những nền tảng quan trọng để hình thành các thế hệ nhà khoa học trẻ có trình độ và ý chí, có năng lực cạnh tranh quốc tế.
GS.TSKH Nguyễn Đình Đức đặc biệt nhấn mạnh việc xây dựng những chính sách phát hiện, bồi dưỡng và hỗ trợ tài năng trẻ ngay từ sớm. Điều này không chỉ bắt đầu ở bậc đại học mà còn từ giáo dục phổ thông thông qua các chương trình phát triển năng khiếu khoa học, các cuộc thi nghiên cứu sáng tạo, cũng như các học bổng và chương trình đào tạo đặc biệt dành cho sinh viên và nghiên cứu sinh xuất sắc. Đồng thời, cần tạo điều kiện để các nhà khoa học trẻ được tham gia vào các dự án nghiên cứu lớn, hợp tác quốc tế và tiếp cận với các môi trường nghiên cứu tiên tiến.

Sinh viên Trường Đại học Công nghệ thực hành tại phòng thực tập. Ảnh: UET
Theo ông, việc xây dựng môi trường học thuật minh bạch, tôn trọng các giá trị khoa học và khuyến khích tinh thần sáng tạo cũng rất quan trọng.
“Một hệ sinh thái khoa học lành mạnh cần bảo đảm rằng những người trẻ có năng lực thực sự sẽ có cơ hội phát triển, được đánh giá công bằng, được trọng dụng và được hỗ trợ để theo đuổi những ý tưởng nghiên cứu táo bạo. Tôi tin rằng nếu tiếp tục có những chính sách mang tính chiến lược và dài hạn trong lĩnh vực khoa học – công nghệ, đồng thời đặc biệt quan tâm đến thế hệ trí thức trẻ, Việt Nam hoàn toàn có thể xây dựng được một lực lượng nhà khoa học và chuyên gia công nghệ mạnh, đủ sức đóng góp vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong kỷ nguyên số”, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức cho hay.
Để tạo môi trường thuận lợi hơn cho các nhà khoa học, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức nhìn nhận, các chính sách cần chuyển mạnh từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy tạo điều kiện cho sáng tạo.
Hoạt động nghiên cứu khoa học có những đặc thù riêng, đòi hỏi sự linh hoạt, tính thử nghiệm và chấp nhận rủi ro ở một mức độ nhất định. Vì vậy, hệ thống pháp lý cần được thiết kế theo hướng giảm bớt các thủ tục hành chính, tăng quyền tự chủ cho các nhà khoa học và các tổ chức nghiên cứu, đồng thời xây dựng cơ chế đánh giá kết quả nghiên cứu dựa trên chất lượng và tác động khoa học thay vì chỉ dựa trên các tiêu chí hình thức.
Ngoài ra, cần tạo ra một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thực sự gắn kết giữa nhà nước, nhà khoa học, đại học – viện nghiên cứu và doanh nghiệp.
Theo GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, nhiều kết quả nghiên cứu có giá trị nhưng chưa được chuyển hóa thành sản phẩm hay công nghệ phục vụ phát triển kinh tế – xã hội. Do đó, các chính sách cần khuyến khích mạnh mẽ hơn việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu, thúc đẩy hợp tác công – tư trong nghiên cứu và phát triển, cũng như hỗ trợ các doanh nghiệp công nghệ và các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.
Ông cũng cho rằng, cần quan tâm hơn đến việc xây dựng môi trường học thuật lành mạnh, tôn trọng các giá trị khoa học và khuyến khích tinh thần sáng tạo. Điều này bao gồm việc bảo đảm sự minh bạch trong đánh giá khoa học, tạo cơ hội bình đẳng cho các nhà khoa học trẻ, đồng thời có những chính sách đãi ngộ và điều kiện làm việc tốt hơn để thu hút và phát huy đội ngũ trí thức trong và ngoài nước.
Đặc biệt, cần thúc đẩy những chính sách mang tính dài hạn nhằm đưa khoa học – công nghệ và giáo dục thực sự trở thành nền tảng của phát triển quốc gia.
“Làm khoa học và công nghệ, nhất là các công nghệ cao theo hướng tự chủ, tự lực, tự cường thì không thể ‘ăn xổi’. Do đó, đầu tư cho đào tạo nhân lực, cho nghiên cứu các công nghệ cao không chỉ đáp ứng nhu cầu trước mắt, mà các thể chế, chính sách cũng phải nhận thức đầy đủ được điều đó để có chiến lược đầu tư dài hơi mới vươn tới đỉnh cao. Khi thể chế được hoàn thiện theo hướng khuyến khích sáng tạo, tôn trọng tri thức và đầu tư đúng mức cho nghiên cứu, các nhà khoa học sẽ có thêm động lực và điều kiện để cống hiến, từ đó góp phần tạo ra những giá trị mới cho xã hội và nâng cao vị thế của Việt Nam trong nền kinh tế tri thức toàn cầu”, ông nhấn mạnh.
GS.TSKH Nguyễn Đình Đức – Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng, nhiệm kỳ tới của Quốc hội là thời gian của “cơ hội vàng” cho sự phát triển đột phá của đất nước. Mỗi đại biểu Quốc hội không chỉ là người tham gia vào quá trình làm luật, góp phần quyết định sự thay đổi, thịnh vượng của quốc gia, mà còn góp phần vào định hình tầm nhìn phát triển của đất nước.
Trước thềm bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031, trao đổi với Báo Đại biểu Nhân dân, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức – Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội chia sẻ nhiều góc nhìn về vai trò của Quốc hội trong giai đoạn mới, cũng như kỳ vọng đối với sự tham gia của đội ngũ trí thức, nhà khoa học trong hoạt động lập pháp và hoạch định chính sách.
– Thưa GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, với tư cách một cử tri và một nhà khoa học, ông nhìn nhận như thế nào về ý nghĩa của cuộc bầu cử Quốc hội khóa XVI trong bối cảnh đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới?
GS.TSKH Nguyễn Đình Đức: Với tư cách là một cử tri và một nhà khoa học, tôi cho rằng cuộc bầu cử Quốc hội khóa XVI có ý nghĩa rất quan trọng đối với tiến trình phát triển của đất nước trong giai đoạn mới. Đây không chỉ là một sự kiện chính trị mang tính định kỳ của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mà còn là dịp để nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình, lựa chọn những đại biểu thật sự tiêu biểu về trí tuệ, bản lĩnh và trách nhiệm để tham gia vào cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất.
Trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mới với cơ hội vàng để phát triển đột phá dựa vào trí thức và khoa học công nghệ, nhưng cũng không ít thách thức – từ chuyển đổi số, phát triển kinh tế tri thức, đổi mới mô hình tăng trưởng cho đến bảo đảm an ninh, quốc phòng và hội nhập quốc tế sâu rộng, vai trò của Quốc hội ngày càng trở nên quan trọng. Quốc hội không chỉ làm luật mà còn định hướng các chính sách lớn, tạo khuôn khổ pháp lý cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và giáo dục đào tạo – những lĩnh vực then chốt quyết định năng lực cạnh tranh và vị thế của quốc gia trong tương lai.

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức – Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh: Phạm Thắng
Ở góc độ của một nhà khoa học, tôi đặc biệt kỳ vọng Quốc hội khóa XVI sẽ tiếp tục thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa hệ sinh thái khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo của đất nước.
Điều đó đòi hỏi những chính sách đột phá nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, khuyến khích nghiên cứu cơ bản và đặc biệt là nghiên cứu ứng dụng, phát triển các công nghệ cao, công nghệ chiến lược để tạo nên những giá trị gia tăng thần kỳ cho sự phát triển thịnh vượng, giàu mạnh của Quốc gia, gắn kết chặt chẽ mô hình 4 nhà: giữa Nhà nước, nhà khoa học, đại học – viện nghiên cứu và doanh nghiệp, cũng như tạo điều kiện để các nhà khoa học đóng góp nhiều hơn vào quá trình hoạch định chính sách.
Tôi cũng tin rằng cuộc bầu cử lần này sẽ góp phần lựa chọn được một Quốc hội thực sự đại diện cho trí tuệ và khát vọng phát triển của dân tộc – một Quốc hội hành động, đổi mới và gần gũi với nhân dân. Khi những người có tâm huyết, có năng lực và có tầm nhìn chiến lược được trao trách nhiệm, Quốc hội sẽ tiếp tục phát huy vai trò là trung tâm của quá trình kiến tạo thể chế, từ đó tạo động lực mạnh mẽ cho Việt Nam phát triển nhanh và bền vững trong những thập niên tới.
– Trong nhiều nhiệm kỳ qua, đội ngũ trí thức và nhà khoa học ngày càng tham gia sâu hơn vào hoạt động Quốc hội. Theo ông, sự hiện diện của lực lượng này có thể đóng góp như thế nào cho quá trình hoạch định chính sách của Quốc hội trong thời gian tới?
GS.TSKH Nguyễn Đình Đức: Trong nhiều nhiệm kỳ vừa qua và đặc biệt trong nhiệm kỳ này, tôi thấy có sự tham gia ngày càng nhiều của đội ngũ trí thức và các nhà khoa học trong Quốc hội là một tín hiệu rất tích cực. Điều đó cho thấy đời sống chính trị của đất nước ngày càng coi trọng tri thức, coi trọng khoa học và tư duy chuyên môn, cũng như tính khách quan, khoa học và thực tiễn trong quá trình xây dựng và hoàn thiện thể chế.
Theo tôi, sự hiện diện của lực lượng trí thức và các nhà khoa học trong Quốc hội có thể đóng góp ở một số phương diện rất quan trọng.
Trước hết, họ mang đến cho hoạt động lập pháp một nền tảng tư duy khoa học và cách tiếp cận dựa trên bằng chứng. Các nhà khoa học thường quen với việc phân tích dữ liệu, đánh giá tác động và nhìn nhận vấn đề một cách hệ thống, tầm nhìn dài hạn. Vì vậy, trong quá trình xây dựng luật và chính sách, họ có thể góp phần nâng cao chất lượng các dự thảo luật, giúp các quy định được thiết kế chặt chẽ hơn, có cơ sở khoa học và phù hợp hơn với thực tiễn phát triển.
Thứ hai, đội ngũ trí thức có khả năng dẫn dắt và kết nối giữa chính sách với sự phát triển của khoa học, công nghệ và giáo dục – những lĩnh vực đang đóng vai trò then chốt quyết định đối với năng lực cạnh tranh và sự phát triển giàu mạnh, hùng cường của quốc gia. Khi tham gia vào Quốc hội, với kinh nghiệm và trí tuệ, tầm nhìn, họ có thể góp phần trực tiếp thúc đẩy mạnh mẽ những chính sách đột phá nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, và tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho các hoạt động nghiên cứu và chuyển giao công nghệ hội nhập với thế giới.
Thứ ba, các nhà khoa học trong Quốc hội cũng có vai trò cầu nối giữa cộng đồng học thuật và cơ quan lập pháp. Thông qua hoạt động khoa học ở cơ sở, họ cũng hiểu rõ thực tiễn, những khó khăn, vướng mắc, cũng như nguyện vọng của trí thức, và qua các kênh tham vấn, phản biện và đối thoại chính sách, đội ngũ trí thức có thể đưa tiếng nói của giới nghiên cứu, của các trường đại học và viện nghiên cứu vào quá trình xây dựng chính sách.
– Nếu gửi một thông điệp tới những đại biểu Quốc hội khóa XVI sau khi trúng cử, đặc biệt là những người hoạt động trong lĩnh vực khoa học và giáo dục, ông muốn nhắn nhủ điều gì về trách nhiệm trước cử tri và tương lai của đất nước?
GS.TSKH Nguyễn Đình Đức: Tôi muốn nhấn mạnh trước hết đến ý thức về trách nhiệm và sứ mệnh của các đại biểu trước cử tri và trước tương lai của đất nước. Được nhân dân tín nhiệm bầu vào Quốc hội không chỉ là một vinh dự lớn mà còn là một trọng trách rất nặng nề, bởi mỗi quyết sách của Quốc hội đều có ảnh hưởng lâu dài tới sự phát triển của quốc gia và đời sống của người dân.
Đối với các đại biểu xuất thân từ giới trí thức, nhà khoa học và nhà giáo, tôi cho rằng trách nhiệm ấy càng có ý nghĩa đặc biệt. Họ không chỉ đại diện cho cử tri mà còn mang theo kỳ vọng của cộng đồng khoa học, giáo dục và của thế hệ trẻ.
Tôi cũng mong rằng các đại biểu sẽ luôn lắng nghe tiếng nói của nhân dân, luôn đại diện trung thành cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, trong đó có ý chí và nguyện vọng của đội ngũ trí thức Việt Nam – mạnh dạn đưa tri thức khoa học và những phân tích dựa trên bằng chứng vào quá trình hoạch định chính sách.
Bên cạnh đó, tôi kỳ vọng các đại biểu, đặc biệt là những người hoạt động trong lĩnh vực khoa học và giáo dục, sẽ góp phần thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa các chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và tạo điều kiện thuận lợi để các nhà khoa học, sinh viên và trí thức trẻ phát huy năng lực của mình. Đầu tư cho khoa học, giáo dục và con người chính là đầu tư cho tương lai của quốc gia.
Cuối cùng, tôi cho rằng nhiệm kỳ tới của Quốc hội cũng là thời gian của “cơ hội vàng” cho sự phát triển đột phá của đất nước. Mỗi đại biểu Quốc hội không chỉ là người tham gia vào quá trình làm luật, góp phần quyết định sự thay đổi, thịnh vượng của quốc gia, mà còn góp phần vào định hình tầm nhìn phát triển của đất nước.
Khi mỗi đại biểu luôn giữ trong mình tinh thần trách nhiệm, bản lĩnh, sự liêm chính và khát vọng cống hiến, Quốc hội sẽ thực sự trở thành một thiết chế đại diện cho trí tuệ và ý chí của dân tộc, góp phần đưa Việt Nam phát triển nhanh, giàu mạnh, hùng cường, bền vững và có vị thế ngày càng cao trên trường quốc tế.
– Trân trọng cảm ơn ông đã chia sẻ!
Tin tưởng và kỳ vọng vào những nghị quyết trúng và đúng, những chính sách thiết thực có tầm chiến lược của Đảng, các nhà khoa học đã và đang quyết tâm cống hiến vì một Việt Nam hùng cường, trong đó khoa học công nghệ thực sự là đòn bẩy.

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức – Trường ĐH Công nghệ ĐHQG Hà Nội
Lịch sử đã chứng minh rằng, các quốc gia phát triển trên thế giới như Anh, Pháp, Mỹ… gần đây là Trung Quốc và Hàn Quốc đều rất quan tâm và chú trọng đầu tư cho khoa học công nghệ. Bước vào thế kỷ XXI, thế giới biến chuyển nhanh chóng dưới tác động của Cách mạng khoa học – công nghệ, chuyển đổi số và kinh tế tri thức.
Trong bối cảnh đó, tháng 12/2024, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 57-NQ/TW, đặt ra mục tiêu lấy chuyển đổi số, công nghệ cao và đổi mới sáng tạo là 3 mũi nhọn đột phá đưa đất nước trở thành quốc gia phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên mới. Trong đó phát triển công nghệ cao, KHCN là gốc, là giá trị cốt lõi.
Việc xác định khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực then chốt, là “chiếc đũa thần” của sự tăng trưởng, là nền tảng của năng lực cạnh tranh quốc gia và là trụ cột của phát triển bền vững thể hiện bước tiến lớn về nhận thức, phản ánh tầm nhìn dài hạn và sự nhạy bén của Đảng, Nhà nước trước những xu thế phát triển của thế giới.
Đồng thời, để thực hiện thành công mục tiêu trên, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 71-NQ/TW, xác định giáo dục đại học là quốc sách hàng đầu, các nhà khoa học, các trường đại học, viện nghiên cứu đóng vai trò then chốt.
Những chủ trương, nghị quyết quan trọng của Đảng và Nhà nước thể hiện ý chí, quyết tâm chính trị rất cao trong việc đổi mới mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức, khoa học và công nghệ. Các định hướng về phát triển khoa học công nghệ, chuyển đổi số quốc gia, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đã tạo nên một khung chính sách ngày càng đồng bộ, rõ ràng và có chiều sâu.
Đặc biệt, vai trò của đội ngũ trí thức, nhà khoa học, giảng viên đại học, chuyên gia công nghệ được nhấn mạnh không chỉ như lực lượng thực thi mà còn có vai trò then chốt, là chủ thể kiến tạo tri thức, tham gia hoạch định chính sách và dẫn dắt đổi mới.
Việc ban hành rất nhanh và khẩn trương Luật Khoa học Công nghệ và Đổi mới sáng tạo, Luật Giáo dục đại học và một loạt các luật, nghị định liên quan trong năm 2025 đã tháo gỡ những rào cản thể chế, tài chính, hành chính về quản lý khoa học, cơ chế tài chính cho nghiên cứu, thúc đẩy tự chủ đại học, gắn kết Viện – Trường – Doanh nghiệp.
Mặc dù vẫn còn những thách thức trong quá trình triển khai, nhưng đã cho thấy hướng đi đúng đắn và quyết tâm, quyết liệt đổi mới từ gốc rễ. Đó là tiền đề quan trọng để Khoa học Việt Nam từng bước hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới.
Đại hội XIV của Đảng có ý nghĩa đặc biệt, không chỉ là một dấu mốc chính trị quan trọng, mà còn là thời điểm then chốt để định hình tầm nhìn phát triển của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Với đội ngũ trí thức, nhà khoa học và những người làm giáo dục, Đại hội XIV tiếp tục khẳng định mạnh mẽ vai trò trung tâm của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong chiến lược phát triển quốc gia.
Đại hội XIV được kỳ vọng là Đại hội của tầm nhìn, của đổi mới và của khát vọng phát triển, mở ra một chặng đường mới để Việt Nam khẳng định vị thế xứng đáng trong khu vực và trên trường quốc tế, bằng chính trí tuệ, bản lĩnh và khát vọng vươn lên của dân tộc.
Các định hướng chiến lược mới của Đại hội lần này sẽ thể hiện tầm nhìn dài hạn, tư duy đổi mới và bản lĩnh chính trị của Đảng, mở ra một không gian phát triển mới – rộng lớn cho khoa học, công nghệ, giáo dục, đổi mới sáng tạo và kinh tế tri thức, đưa đất nước ta nhanh chóng trở thành quốc gia giàu mạnh, hùng cường và thịnh vượng.
Đây chính là những trụ cột then chốt để khơi dậy mạnh mẽ nguồn lực con người Việt Nam, giải phóng tiềm năng sáng tạo của trí thức, doanh nghiệp và toàn xã hội.
Việt Nam đang đứng trước cơ hội lịch sử để bứt phá, cất cánh mạnh mẽ và vững chắc, từng bước khẳng định vị thế quốc gia trong kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên của đất nước Việt Nam giàu mạnh, hùng cường và thịnh vượng, hội nhập sâu rộng, tự chủ công nghệ và phát triển bền vững.
Đại hội XIV của Đảng không chỉ là một dấu mốc chính trị quan trọng mà còn là thời điểm then chốt để định hình tầm nhìn phát triển của Việt Nam trong nhiều thập niên tới.

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức – Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội
Phóng viên: Thưa Giáo sư, ông đánh giá thế nào về tầm quan trọng của khoa học công nghệ đối với sự phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay?
GS.TSKH Nguyễn Đình Đức: Lịch sử đã chứng minh rằng, các quốc gia phát triển trên thế giới như Anh, Pháp, Mỹ… gần đây là Trung Quốc và Hàn Quốc đều rất quan tâm và chú trọng đầu tư cho khoa học, công nghệ. Bước vào thế kỷ XXI, thế giới biến chuyển nhanh chóng dưới tác động của Cách mạng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và kinh tế tri thức.
Trong bối cảnh đó, tháng 12/2024, Bộ chính trị đã ban hành Nghị quyết 57-NQ/TW, đặt ra mục tiêu lấy chuyển đổi số, công nghệ cao và đổi mới sáng tạo là 3 mũi nhọn đột phá đưa đất nước trở thành quốc gia phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên tới. Trong đó phát triển công nghệ cao, khoa học, công nghệ là gốc, là giá trị cốt lõi.
Phóng viên: Xin Giáo sư chia sẻ cụ thể hơn về vai trò của khoa học, công nghệ và giáo dục đại học trong mô hình tăng trưởng mới?
GS.TSKH Nguyễn Đình Đức: Việc xác định khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực then chốt, là “chiếc đũa thần” của sự tăng trưởng, là nền tảng của năng lực cạnh tranh quốc gia và là trụ cột của phát triển bền vững, thể hiện bước tiến lớn về nhận thức, phản ánh tầm nhìn dài hạn và sự nhạy bén của Đảng, Nhà nước ta.
Để thực hiện thành công mục tiêu trên, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, xác định giáo dục đại học là quốc sách hàng đầu, các nhà khoa học, các trường đại học, viện nghiên cứu đóng vai trò then chốt. Các định hướng về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số quốc gia, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo… cũng như chiến lược phát triển giáo dục đại học và nhân lực chất lượng cao đã tạo nên một khung chính sách ngày càng đồng bộ, rõ ràng và có chiều sâu.

Các nhà khoa học kỳ vọng Đại hội XIV của Đảng sẽ là Đại hội của tầm nhìn, của đổi mới và của khát vọng phát triển
Phóng viên: Tại Đại hội XIV đang diễn ra, đội ngũ trí thức và các nhà khoa học có những kỳ vọng gì, thưa Giáo sư?
GS.TSKH Nguyễn Đình Đức: Với đội ngũ trí thức, nhà khoa học và những người làm giáo dục, Đại hội XIV được kỳ vọng sẽ tiếp tục khẳng định mạnh mẽ vai trò trung tâm của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong chiến lược phát triển quốc gia; đồng thời có những quyết sách mang tính đột phá hơn nữa về thể chế, cơ chế và đầu tư cho lĩnh vực này.
Trong đó, có những chính sách đủ mạnh để thu hút, trọng dụng và phát huy hiệu quả đội ngũ trí thức trong và ngoài nước. Các định hướng chiến lược mới của Đại hội lần này sẽ thể hiện tầm nhìn dài hạn, tư duy đổi mới và bản lĩnh chính trị của Đảng, mở ra một không gian phát triển mới, rộng lớn cho khoa học, công nghệ, giáo dục, đổi mới sáng tạo và kinh tế tri thức, đưa đất nước ta nhanh chóng trở thành quốc gia giàu mạnh, hùng cường và thịnh vượng.
Phóng viên: Giáo sư có niềm tin như thế nào về tương lai của đất nước sau kỳ Đại hội này?
GS.TSKH Nguyễn Đình Đức: Với tất cả niềm tin và trách nhiệm của một người làm khoa học, tôi kỳ vọng Đại hội XIV của Đảng sẽ là Đại hội của tầm nhìn, của đổi mới và của khát vọng phát triển, mở ra một chặng đường mới để Việt Nam khẳng định vị thế xứng đáng trong khu vực và trên trường quốc tế.
Với nền tảng đó, tôi hoàn toàn tin tưởng và cho rằng Việt Nam đang đứng trước cơ hội lịch sử để bứt phá, cất cánh mạnh mẽ và vững chắc, từng bước khẳng định vị thế quốc gia trong kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên của đất nước Việt Nam giàu mạnh, hùng cường và thịnh vượng, hội nhập sâu rộng, tự chủ công nghệ và phát triển bền vững.